Maria Domenica Mazzarello và những nghịch lý của sự thánh thiện
Giulia Paola DI NICOLA 67
Sự bất thường trong cái bình thường
Các độc giả tiếp xúc với những dấu vết của cuộc phiêu lưu nơi Mẹ Mazzarello, đặc biệt đối với người được xem là “ngoại đạo” về khuôn phép, liền bị ấn tượng như thể là một sự bất bình thường nảy sinh từ cái bình thường trong cuộc sống của Mẹ; trong thực tế, cuộc sống Mẹ biểu lộ những “điều kỳ diệu” Thiên Chúa đã làm cho những ai yêu mến Ngài. Quả thực, chính sự khiêm tốn nơi con người của Mẹ đã làm chứng cho vinh quang Thiên Chúa, là Đấng đã dùng những thứ bị thế gian khinh chê để làm nên khí cụ của Lời và sự ân cần của Ngài cho các thụ tạo. Thực vậy, từ một người mù chữ (sinh năm 1837, tại một làng chỉ có cấp I dành cho các trẻ nam) đã phát sinh một Hội dòng dấn thân về văn hóa và đào luyện các thiếu nữ; từ một người nữ không biết đến trường lớp lại phát khởi một Viện Phân Khoa Giáo Hoàng về Khoa Giáo dục “Auxilium”; từ một người nữ chỉ quen vâng phục, đã trở nên một bề trên có khả năng hướng dẫn một đoàn những người nữ được ủy thác cho Mẹ để tiến tới sự thánh thiện; từ một người nữ không có cơ hội gây ảnh hưởng trên bình diện xã hội và chính trị (thậm chí không có quyền bỏ phiếu) lại trở thành bà giáo của những người nữ, biến đổi họ thành những người lãnh đạo và những nhà giáo dục; từ một thiếu nữ với chân trời chỉ là vùng nông thôn Mornese nhỏ bé không ai biết đến đã cho ra đời một Hội dòng – mà khi Mẹ từ trần - với 166 nữ tu, 26 nhà và đã bành trướng đến các nước Ý, Pháp, Uruguay và Argentina (ngày nay hơn 90 quốc gia); từ một người nữ ngoan ngoãn chẳng có dự án gì trở thành một Thánh Đồng sáng lập với Don Bosco một Hội dòng nữ, giữa những dòng năng động lớn mạnh của thời hiện đại.
Sự ngạc nhiên của chúng ta vọng lại điều mà chính Mazzarello cũng đã chưa từng nghĩ là mình lại được chứng kiến nhiều phép lạ như vậy, như Mẹ đơn sơ thú nhận: “Nói thật, con ngạc nhiên và lúng túng khi thấy tất cả các nữ tu lúc nào cũng vui tươi và bình an. Thật rõ là dầu cho con bất xứng, nhưng người Mẹ đáng yêu của chúng ta là Đức Maria Phù Hộ Rất Thánh đã ban cho chúng con nhiều ơn lớn lao” (T. 7,2).
Mẹ đã sống trong một môi trường thôn dã, trong môt bối cảnh gắn liền với sự sống còn và với gia đình truyền thống, giữa những lao nhọc của nghèo khó, những nhục nhã của sự gạt bỏ, của những cuộc di tản, Mazzarello trải qua một cuộc sống không ồn ào nhưng là một bước đường chậm rãi, bền tâm hướng tới một đích đến không đợi chờ. Điểm tựa của Mẹ chính là sự kiên trì, một tính khí vui tươi bù lại cho thân phận kém may mắn trong xã hội. Khi còn là một trẻ nhỏ, Mẹ đã khát khao về giáo lý đến nỗi đã trở thành nhân vật chính trong việc học giáo lý, cả trong các cuộc thi lẫn trong các buổi học: chẳng hạn việc đặt câu hỏi, câu trả lời, những giải thích.68 Giáo hội là hiện thân ơn cứu độ và sự cứu chuộc đối với Mẹ, còn lại những chuyện khác thì cũng giống như bao phụ nữ chỉ sống ẩn mình không tham gia vào đời sống xã hội, không có quyền bỏ phiếu, thiếu bình đẳng trong gia đình và công việc, được giáo dục để phục vụ chồng – cha – người trưởng gia đình, để yêu thương nhưng nhất là tuân phục, hầu cống hiến trọn cuộc sống cho con cái, làm như thế thì người phụ nữ mới có thể làm cho chồng mình nên thánh được.
Mazzarello làm cho ta nghĩ ngay tới nhiều phụ nữ chưa có khả năng và ưu thế trong xã hội về kiến thức, nhưng họ lớn lên bằng cách tận dụng chút kiến thức được Giáo hội truyền đạt cho cách nhưng không: chút ít từ vựng La-tinh, thánh ca, âm nhạc, lịch sử và thần học thường thức. Giáo lý và đời sống Giáo xứ cho phép mỗi người lĩnh hội tùy khả năng trí tuệ và sáng tạo để có một sự chuẩn bị thích hợp với cuộc sống. Cách chung, nạn mù chữ tại Ý đã giảm thiểu vào những năm 1800 (trước hết dành cho những nam giới, sau tới nữ giới).69 Tại Ý, khi vừa thống nhất đất nước, việc củng cố kiến thức có nghĩa là giải phóng dân chúng khỏi sự mê tín và cổ võ cho sự tiến bộ và nền văn minh, nhưng trải qua nhiều nền giáo dục khác nhau: trong thời gian dài, các phụ nữ đã chỉ được hướng về những khía cạnh luân lý và tôn giáo, gia đình, hòa bình dân sự, công việc chăm sóc.70
Môi trường này đã đề xuất sự có mặt của một đoàn sủng thiêng liêng dành riêng cho việc phục vụ các thiếu nữ. Ơn gọi văn hóa của công cuộc là một nỗ lực bền tâm trong Hội dòng, nó đã hiện diện trong tâm thức của Mazzarello là việc học tập, dạy học để các chị em và học sinh biết đọc, biết viết. Rồi cộng đoàn được chị Corinna dạy âm nhạc (sau này sẽ là cha Costamagna, ngoài chức vụ linh hướng ngài còn là nhạc sĩ sáng tác và là nhạc trưởng của ca đoàn), việc học ngoại ngữ cũng được Mazzarello nhắc nhở như ngôn ngữ của linh hồn trước khi học ngữ pháp: “Trong khi học biết những ngôn ngữ của thế gian này, con hãy học cả ngôn ngữ của tâm hồn với Thiên Chúa” (T.2,12).
Các vấn đề xã hội và chính trị là bức khung để các thiếu nữ ở Mornese bước vào hoạt động. Bầu khí lịch sử thời phục hưng không dễ dàng gì, không thiếu những rối loạn xã hội và những cuộc nổi dậy, người ta pha trộn các vấn nạn chính trị với những điều thuộc giáo lý: để chiến đấu với sự bắt tay nguy hiểm giữa các giáo sĩ với những hội bí mật, Carlo Alberto dùng luận điệu tố cáo của phái Giansenis, ngoài ra còn phổ biến giữa những người nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiêm khắc và làm cho các tín hữu xa rời các Bí tích (các cha sở đã từ chối giải tội và chỉ cho phép hiệp lễ vào lễ Phục Sinh), điều này đã gây mối hại lớn trong việc giữ thuần phong mỹ tục. Đây là tập quán hoài nghi giữa hai thế lực. Họ chiến đấu với tất cả những gì có thể biểu hiện một đe dọa cho trật tự, thậm chí một đại biểu tới gặp Carlo Alberto với mục tiêu chính xác là xua đuổi các tu sĩ dòng Tên (1848).
Nhưng xem ra, tất cả những sự kiện đan xen của các vấn đề bao quanh không ảnh hưởng gì đến Mẹ Mazzarello, người đã không dõi theo mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu trung thành với con đường của sự hiến dâng mà Mẹ đang mở ra phía trước. Thực không thể nói là Mẹ đã quyết định về cuộc sống của mình và chính Mẹ đã dẫn đường cho nó. Mẹ đã đơn sơ tuân theo linh hứng và tuân theo những diện mạo thiêng liêng lớn hơn Mẹ. Trong sự đơn sơ, Mẹ tự thấy sự dâng hiến của bản thân được định hình như một hệ quả tự nhiên của lòng khao khát Thiên Chúa và của sự hiến mình cho đào luyện, cho sự tăng trưởng thiêng liêng và văn hóa của các trẻ thơ được ủy thác cho “quý cô ở Mornese”. Dự định của Mẹ không phải là thành lập một công cuộc mới trong Giáo hội, nhất là trong một thời đại mà người nữ chưa có chỗ trong các sáng kiến mới, và sự thánh hiến nữ giới đã chỉ gắn liền với đan viện (kỳ thực các nữ tu dòng Orsoline đã phải từ bỏ đời sống hoạt động giáo dục Ki-tô và nhân bản cho các thiếu nhi, dạy chúng môt nghề. Các chị phải đổi thành dòng kín, ít là cho tới khi Đức Thánh Cha Piô VII phong thánh cho Angela Merici năm 1861). Chẳng hạn ý tưởng trở thành nữ tu thực thụ trong Giáo hội, đồng thời ở lại thế gian như những người công dân trong mọi lãnh vực, được tự do liên kết (để tránh luật bãi bỏ đời sống cộng đoàn và tịch thu tài sản trong bối cảnh đối nghịch giữa Giáo Hội và chính quyền) không phải là một lối thoát tự nhiên của kinh nghiệm đã sống tại Mornese, nhưng cũng là một nhu cầu của giây phút lịch sử và tuân phục các Bề trên.
Những nẻo đường của Thiên Chúa ngang qua vâng phục
Kinh nghiệm của Mazzarello được ghi dấu bởi các diện mạo nam giới là những người “hướng dẫn Mẹ”
và họ được đánh giá như một hồng ân hơn là một gánh nặng, bởi vì đối với Mẹ, những hướng dẫn của các ngài không gợi lại một vấn đề gì thông thường như: không thể là thế này và cần làm thánh ngang qua những điều kiện này. Trước hết là thân phụ. Trước khi được học tại giáo xứ thì từ nơi người cha, Mazzarello đã học biết giáo lý, (“cho tới khi người cha còn trả lời được những chất vấn đầy thông minh của Maria. Thực sự, bé Maria không hài lòng với câu giải đáp bất kỳ, nhưng một khi đã nêu vấn đề thì Maria muốn được trả lời thấu đáo”)71
và những giải thích dễ hiểu đó đã là nguồn văn hóa cho Mẹ trong một thời đại mà những cống hiến cho trẻ em rất ít, nhất là cho một đứa trẻ với điều kiện khiêm tốn trong xã hội. Có lẽ nhờ mối tương quan đầy tin tưởng với người cha đã thúc đẩy Mẹ đến chỗ làm tất cả những gì có thể, mà không phải quá sức để chiến đấu với sự ngu dốt. Thực vậy, ngay từ khi còn nhỏ Mẹ đã học đọc và đếm bằng các ngón tay. Tuy nhiên, dường như cái dằm của sự ngu dốt ở lại lâu dài nơi Mẹ, nhằm kiện cường đức khiêm nhường tự nhiên của Mẹ và để Mẹ tin rằng mình chỉ ngẫu nhiên và nhất thời phải giải quyết một bổn phận vượt quá khả năng, mà Don Bosco đã ủy thác cho Mẹ, tức là hướng dẫn các đồng bạn của mình và Hội dòng vừa mới khai sinh.
Được giáo dục sống ẩn mình, tìm kiếm những hoa trái của sự thật qua công việc và nơi các linh hồn, Mẹ đã bền tâm làm việc “không cần một ai để ý tới”, từ khi còn ở Mornese năm 1855, cộng đoàn gồm các thiếu nữ đã khởi xướng “Hội đạo đức”, một kiểu tận hiến nhưng không trở thành nữ tu, do cha Giuseppe Frassinetti điều hành và do cô giáo Angela Maccagno hướng dẫn. Các thiếu nữ này coi trọng việc hoạt động ẩn dật, gieo rắc sự thiện bằng việc dùng chính những chiến lược mà các Hội bí mật thời đó đã dùng để phổ biến sự xấu.
Diện mạo nam giới khác nữa là cha Pestarino, người đã làm giàu cho hành trang văn hóa và thiêng liêng của người thanh nữ này, bằng cách khích lệ cô thực hành các Bí tích cách nhẹ nhàng hơn. Ngài không sử dụng lối giáo dục cứng ngắc thời đó thường dùng để rèn luyện tính khí và giúp tâm hồn người thanh nữ từ bỏ hư danh. Trong Hiệp hội của mình, cả Angela Maccagno trong “Hội đạo đức” do cô sáng lập, cũng muốn tuân phục một vị linh mục được gọi là Giám đốc hay một người bạn do ngài chỉ định, trong thực tế, họ công nhận vị linh mục này là vị hướng dẫn nhóm. Sự vâng phục một vị Giám đốc đã được duy trì lâu dài trong công cuộc. Mỗi sáng kiến mới phải có phép rõ ràng của cha Pestarino, vị Giám đốc của tất cả, người quyết định ai được đón nhận vào nhóm và ai phải loại ra, ai có trách nhiệm về các nữ tu và ai phải để dành riêng, ai sẽ khởi hành hay ở lại Ý, bị phạt hay được khích lệ. Để định hình một đường lối mới về đời sống cho Hội dòng đang khai sinh, cuộc gặp gỡ giữa hai vị linh mục cha Pestarino và Don Bosco (1862) có tính quyết định cao. Các ngài đã nói về các thiếu nữ ở Mornese và quyết định tháp nhập sự thánh hiến giữ mình đồng trinh của họ, vào đoàn sủng của vị thánh giáo dục nổi danh. Chính cha Pestarino đã quan sát sự trưởng thành của các nữ tu đối với đời sống thánh hiến, đánh giá họ như Don Bosco chỉ dẫn – đức tuân phục và sự vui vẻ đón nhận những sửa dạy. Cha Pestarino là người chuyển bản phác thảo qui luật do chính Don Bosco thảo ra cho các tân nữ tu, và Mazzarello đã hân hoan đón nhận và thực hành cặn kẽ ngay mọi điều.
Chúng ta không thể lãng quên vai trò của cha Lemoyne, người nói với Don Bosco (1866) rằng các nữ tu đã làm cho các thiếu nữ những gì các Sa-lê-diêng đã làm cho thiếu niên, và sự chia sẻ này đã đem lại một câu trả lời tích cực, cho dù phải đợi thời gian. Thật thú vị trước sự đối kháng với các Hồng Y trong Thánh bộ Dòng tu Roma, bởi vì Don Bosco nghĩ tới một Hội dòng nữ lệ thuộc vào Dòng nam, trong khi điều này không được Roma chấp nhận: “Hội dòng muốn mở đầu một cuộc đối kháng lớn, rằng Hội dòng này không thể từ bỏ việc thử nghiệm lại”.72 Sự đối nghịch này một đàng biểu lộ sự tha thiết chính đáng của người đã thành lập một công cuộc mới là muốn tiếp tục hướng dẫn, mặt khác nổi lên trong Giáo hội một tâm thức gắn liền hơn với sự trao đổi lẫn nhau, tức là nếu một Dòng nam có thể hướng dẫn một Dòng nữ lệ thuộc, thì một cách lý thuyết tại sao lại không thể làm ngược lại được, điều đó đã xảy ra thực sự khi một công cuộc phát khởi từ một người nữ và từ đó phát sinh tại nội bộ của mình cả ngành nam. Như thế, hiển nhiên là một đoàn sủng thiêng liêng thì có thể đi xa hơn cả sự ấn định về giới tính và dù là người nam hay người nữ, miễn là được ân sủng cần thiết, họ phải làm cho Hội dòng phát triển.
Mazzarello tuân phục không chút phản kháng, có lẽ đôi khi Mẹ cũng phải hy sinh, nhưng chắc hẳn Mẹ nhận ra sự trổi vượt về mặt thiêng liêng, về tuổi tác cũng như về văn hóa của Don Bosco (Mẹ viết cho cha Cagliero: “Con đã kính cẩn hôn đôi tay của ngài” - T. 7,15) thậm chí điều đó còn cản trở khiến Mẹ không dám nghĩ tới một tương quan hỗ tương trong thực tế. Đối với Mẹ, khoảng cách là rất thực được hướng dẫn bởi chính ân sủng. “Mẹ rất hài lòng vì các con có một cha Giám đốc hết lòng chăm lo cho phần hồn các con, Mẹ phải tạ ơn Chúa về điều này vì đây là một hồng ân lớn lao cho chúng ta, những nữ tu nghèo hèn!” (T.47,3). Ta đọc thấy cả mối tương quan với Don Bosco trong cả lá thư của nữ tu Maddalena Martini, Giám tỉnh, do Mazzarello bổ nhiệm: “Nhờ ơn Chúa, chúng con đều khỏe và vui vẻ, hơn thế, con phải thưa với mẹ là chúng con rất hài lòng vì được ở đây, có thể nói là chúng con được hưởng như ở bên Ý, vì được các Bề trên SDB đáng kính, là những vị quan tâm và ân cần hướng dẫn chúng con”.73 Vả lại, với các anh em Sa-lê-diêng, đức tuân phục cũng gắn liền với việc thừa nhận quyền trưởng nam của các ngài, việc được ở gần Don Bosco như hoa trái trực tiếp và đầu tiên của ngài, do kiến thức cao trổi và chức linh mục của các ngài. Hơn nữa, ta không thấy ghi xuống trong đời sống của Mẹ Mazzarello những kinh nghiệm tiêu cực về sự tuân phục mà chúng ta biết được, ngược lại, chúng tỏ lộ hình ảnh của tình phụ tử được Mẹ nhìn nhận như sự trợ giúp và là điểm tựa hơn là tính cách quyền lực: quyền bính không phủ lấp tình yêu, nhưng kiện cường đặc biệt khi nó được hòa lẫn với một tình mến yêu thảo kính. Mẹ đã viết thế này cho cha Lemoyne: “Thưa Cha đáng kính, xin cha đừng ngại để sửa dạy con, xin cha hãy thực hiện nơi con điều cha thấy là cần thiết, xin cha nhắc bảo con chứ đừng e ngại, tóm lại, xin cha hãy cư xử với con như một người cha đối với đứa con gái cả của gia đình” (T. 11,2). Mẹ cũng xin các chị em như vậy: “Con đừng bao giờ xét đoán trên những lệnh truyền của các ngài để nói rằng Bề trên phải lệ thuộc vào con. Các Bề Trên luôn là các Bề Trên đối với chúng ta và những điều các ngài làm luôn luôn là tốt” (T. 35,4). Còn hơn thế nữa, Mẹ đặt tình yêu trong sự tuân phục rõ ràng, như được diễn tả trong lá thư số 6, khi Mẹ thao thức đi truyền giáo tại Mỹ Châu, Mẹ viết cho cha Cagliero khi mời ngài tới thăm các chị em: “Cha nên về để chọn lựa một số lớn đưa đi Mỹ Châu; hầu hết mọi người đều ước muốn đến đó. Xin cha về mau nhé, chúng con mong đợi cha biết chừng nào” (T. 6,10).
Nhưng trên hết, ngang qua và ngoài sự tuân phục mà Mẹ có với các Bề trên của mình, Mẹ Mazzarello tín thác vào Thiên Chúa, Mẹ hầu như được thỏa mãn và được hoàn trả bởi Đấng Lang Quân của Mẹ, Đấng mà tất cả các Giám đốc cũng phải tuân phục. Chính Ngài đã đến để liên kết với Mẹ bằng một đường dây bí nhiệm của tình yêu, mà trong đó vấn đề xã hội dù có là gì đi nữa cũng không thể đảo lộn thực tại chính yếu của sự kết hiệp phu thê của các linh hồn với Thiên Chúa. Vì vậy, trong lá thư số 7, Mẹ viết: “Con quên không nói với cha là chúng con còn một nhà nữa trên Thiên đàng, nhà này lúc nào cũng mở cửa. Vị Giám đốc của nhà này chẳng cần biết đến Bề trên lẫn các cố vấn, người muốn chọn ai tùy ý” (T. 7,3).
Người ta cũng ấn tượng về sức mạnh nội tâm cho phép Mẹ từ chỗ đứng khiêm tốn của mình có những ảnh hưởng trên các Bề trên, và làm dịu bớt những gì cứng cỏi mà Mẹ không dám diễn tả cách rõ ràng.74 Mẹ bày tỏ ước muốn đi vào trong hòa điệu thiêng liêng, vượt xa hơn những tương quan mang tính hình thức và phẩm trật. Có thể nói Mẹ đoán trước được những ước muốn, thấu hiểu những ẩn giấu trong tâm hồn các Bề trên của mình, Mẹ linh cảm và dõi theo các diễn tiến, Mẹ nhận ra được các dấu vết đó như ghi nhận trong lá thư số 2 gửi cho một vị linh mục, khi Mẹ đoan chắc rằng đó cũng là ý kiến của Don Bosco, cho dù Mẹ không hề được hỏi ý. Vấn đề đơn thuần là vì Mẹ biết Don Bosco sẽ làm thế trong trường hợp này. Mazzarello cũng không bỏ qua cơ hội để diễn tả quan điểm của mình với sự khẳng định chắc chắn và không dính bén: “Giờ đây, con sẽ thưa với Cha những khó khăn mà con cảm thấy khi gởi chị Laurantoni tới Lu, rồi nếu Cha vẫn giữ nguyên quyết định, thì lúc ấy con sẽ gởi chị ấy đi” (T. 15,2). Trong thái độ hòa nhã không chút hiếu chiến, Mẹ đã lên tiếng đề nghị vị linh mục đừng rút ngắn thời gian đào luyện là thời gian của Thiên Chúa, trong sự hòa hợp với nhịp độ tăng trưởng thiêng liêng của mỗi nữ tu, thời gian mà họ không nên vội vã chút nào, cho dù đó là nguyên do thánh thiện. Sự vội vã luôn đi ngược lại với ơn gọi và sự thánh thiện: “Cha tin con đi, các chị em trẻ thường hư đi do quá được đề cao; trái lại, nếu chúng ta cứ tiến chầm chậm, thì chỉ khoảng vài năm nữa thôi, chúng ta sẽ có những con người mà mình có thể tín nhiệm và sai họ đi bất cứ nơi đâu và với bất cứ người nào” (T. 15,3).
Đối với Don Bosco, ta phải nói Mẹ có một sự vâng phục được đồng hành bởi một sự đồng cảm đặc biệt, sự thán phục thiêng liêng và âm vang nội tâm, như Hồi sử chứng thực: “Đối với Mẹ, dường như những lời của Don Bosco là tiếng vọng của một thứ ngôn ngữ mà Mẹ đã cảm nhận trong lòng mà không biết diễn tả thế nào; nó giống như bản dịch của chính cảm xúc của Mẹ, như một điều đã từng mong đợi và giờ đây đã đến”.75 Việc chia sẻ niềm đam mê giáo dục các trẻ nữ và giới luật của niềm vui, cùng sự kiên nhẫn (mà Don Bosco không ngừng nhắc nhở) đã kết hợp sâu xa hai tâm hồn, bởi vì đối với Mazzarello nó đã trở thành những qui luật hướng dẫn cho thái độ sống của Mẹ, mà với cuộc gặp gỡ Đấng Sáng lập, nó đã được sáng tỏ nơi Mẹ. Đương nhiên Đấng Sáng Lập là người được Maria yêu mến và kính trọng cách sâu xa, ban đầu giống như cô học trò với vị tôn sư, rồi từ từ với ước muốn từ mẫu của tình thương mến, Mẹ diễn tả bằng cách làm tất cả những gì tốt nhất các công cuộc để đền đáp những lao nhọc của ngài, như ta đọc thấy trong lá thư số 3: “Một cách nào đó, con ước muốn có thể tỏ bày đến cha lòng biết ơn mà con cảm nhận đối với cha đáng kính, vì mọi điều thiện hảo cha liên tục thực hiện, không chỉ cho riêng con, mà còn cho toàn thể Cộng đoàn này [...].Con sẽ còn cầu xin để thánh Bảo Trợ ban những phúc lành đặc biệt trên tất cả các công cuộc của cha, để ngay từ đời này, cha có thể vui hưởng phần thưởng do rất nhiều nhân đức của cha, bằng việc nhìn thấy những lao nhọc cha đổ ra đạt tới thành công và mọi việc cha làm đều đem lại kết quả dồi dào”.(T 3,2.4).
Mẹ, bức Thánh tượng của Thiên Chúa
Mazzarello cho thấy việc Mẹ dõi theo đoàn sủng Sa-lê-diêng cách cá nhân, cho dù ở trong khuôn khổ đường nét do Cha Giám đốc và Cha giải tội vạch vẽ. Phong cách của Mẹ hệ tại ở sự dễ dạy, ở sự khiêm nhường của một người không có con đường riêng cho mình, một linh đạo độc đáo nhưng luôn chú tâm và cảnh tỉnh như người đầy tớ của Tin Mừng, để hướng đến sự thiện mà trong tâm trí của Mẹ có về những thực tại tốt đẹp đã gặp, để có thể dõi theo kế hoạch mà Thiên Chúa đã tỏ lộ cho Mẹ ngang qua những biến cố và những con người Mẹ gặp trên đường đời. Sự dễ dạy của Mẹ cho dù có lúc thụ động, khi thì tiên liệu, nhưng không làm cản trở vai trò như một “Đấng Đồng sáng lập thực sự”, trong logic thần linh đã luôn để Thiên Chúa làm việc, họ dành không gian cho Ngài chứ không cản trở công cuộc của Ngài. Họ thực sự là cộng tác viên đích thực của Ngài.
Sự đơn sơ được ghi nhận như thứ giải phóng sự vâng phục khỏi nét cứng cỏi và sự khiêm tốn khỏi chủ nghĩa nô lệ. Đây là một nét của cá tính nơi Mẹ mà Đức Piô XI đã nêu rõ trong bài diễn văn dịp Phong Á thánh cho Mẹ (03/ 05/ 1936). Maria Mazzarello chỉ làm điều được linh hứng, những gì mà các Bề trên và tình huống thúc đẩy, dù khi đã thánh hiến, dù lúc được Don Bosco tiếp nhận, dù khi đã trở thành Bề trên, hay cả khi bị loại trừ. Mẹ không phải là người lèo lái lịch sử đời mình, nhưng ngay khi chấp nhận là phụ tá thì Mẹ luôn chờ đợi một Mẹ Tổng quyền thực sự sẽ được gởi đến, một người chắc chắn xứng đáng hơn đến để thay thế và sẽ có trình độ hướng dẫn mọi chị em, trong đó có cả Mẹ.
Trong kinh nghiệm sống, Mẹ dường như thực hiện nơi mình những điều trái ngược: điều có thể trở thành sự mặc cảm có sức kìm hãm, việc không có trình độ văn hóa được sống trong sự khiêm tốn hầu như trở thành lý lẽ làm bật lên một công cuộc thần linh để phục vụ văn hóa. Đồng thời lỗ hổng của thời khởi đầu cần thiết cho việc đâm rễ sâu, như điều mà Don Bosco xác tín bằng việc ghi nhớ rằng: Thiên Chúa nhìn những khả năng khôn ngoan hơn là khả năng tri thức (dù thậm chí ngài phải chiến đấu chống lại những ý kiến đối nghịch, chẳng hạn như của Đức Cha Andrea Scotton, là người đã khuyên Don Bosco đừng mất công chăm sóc mấy thiếu nữ quá ngu dốt ấy nữa), Don Bosco đã trả lời khi nghe xét đoán về Mẹ Bề trên: “Thiên Chúa đã ban cho Mazzarello những ân điển đặc biệt: Ngài đã ban các nhân đức dồi dào, đức khôn ngoan, tinh thần phân định và khả năng lãnh đạo của Mẹ dựa trên lòng nhân hậu, đức bác ái và đức tin không lay chuyển vào Thiên Chúa, bù cho kiến thức giới hạn của Mẹ”.76 Ý thức về sự ngu dốt đã kiện cường nơi Mẹ niềm xác tín: sự thánh thiện là khoa học chân chính, nó đòi “nói ít và suy tư rất nhiều” để “Ngài làm cho các con nên khôn ngoan thực sự” (x. T 22,10.12.15). Sự đơn sơ ấy được diễn tả trong một sự gắn bó triệt để với Thiên Chúa, như trong trường hợp lời khấn khiết tịnh, trong khi các bạn họp lại để xin sự nhất trí của cha Pestarino, thì Mazzarello lại trực tiếp khấn lời khấn này lúc 15 tuổi. “Em không hiểu tại sao chị lại hỏi ngài điều này, và sao lại chỉ khấn trong một thời gian nào đó. Còn em, em đã chẳng phải hỏi một ai và em đã khấn ngay lập tức và mãi mãi. Em nghĩ rằng mình đã không làm điều gì xấu”.77 Một chọn lựa khác đối với đức thanh khiết chợt đến trong trí, với kinh nghiệm của Simone Weil trong một bầu khí văn hóa và xã hội hoàn toàn khác với văn hóa thời của Mazzarello, khởi đi từ việc đối diện với thuyết bất khả tri: “Khái niệm về đức trong sạch, với tất cả những gì mà từ ngữ này có thể ám chỉ đối với một Ki-tô hữu đã thống trị tâm trí khi tôi ở độ tuổi 16. Sau vài tháng, tôi đã trải qua những tình cảm bất ổn tự nhiên của tuổi dậy thì. Quan niệm này đến với tôi trong khi tôi chiêm ngưỡng một cảnh núi non, và dần dần tôi bị đặt vào thế không sao chống cự nổi”.78
Trong suốt cuộc sống, Mazzarello đã duy trì đặc nét này, cả khi sẽ phải hướng dẫn con thuyền Hội dòng trải qua nhiều biến cố bất ngờ. Mẹ đã kể trong lá thư số 4 khi viết cho cho Cagliero về việc hồi tục của một vài chị em: “Cũng may, mọi sự xảy ra êm thắm, không gây phiền toái gì; hai chị trước ra đi bình an, còn người thứ ba cũng làm như vậy. Đó là những vụ bỏ áo dòng”. (T 4,4). Mẹ sẽ còn tiếp tục thông tin cho các Bề trên của mình về những nố hồi tục, nhưng không dài dòng trong những kể lể, mà chỉ như một tường trình đơn thuần của ký sự về đời sống Hội dòng, trong đó những vui buồn đan xen nhau. Điều quan trọng là sống với sự thanh thản và niềm vui.
Với năm tháng, trách nhiệm đối với các thiếu nữ được thay thế bằng việc đối chiếu với các chị em đã được ủy thác cho Mẹ. Giờ đây, Mazzarello là mẹ và phải quan tâm tới việc đào luyện từng người, để giúp họ trở thành những con người trưởng thành và thánh thiện, xứng đáng là những người con của Don Bosco.79 Mẹ nhắc nhở về tinh thần cộng đoàn và phong cách hành động. Điều này để tránh việc chỉ đặt nặng những hoạt động cho Thiên Chúa mà quên đi giới luật yêu thương, được nuôi dưỡng bằng đức vâng phục, kinh nguyện, quan tâm tới nhau và cả những lời khiển trách, sửa lỗi huynh đệ cho nhau (T. 37,3). Hãy quan tâm tới cả sức khỏe như tiềm năng của cá nhân và gia sản của toàn Hội dòng, vì vậy, không được phí phạm cách vô ích, để có thể làm việc cũng như để nên thánh và chiếm được nhiều linh hồn về với Chúa (T. 19,2).
Nét vui tươi đã được nhấn mạnh và được lặp đi lặp lại. Khi thiếu sự vui tươi thì cũng có nghĩa là thiếu Thiên Chúa: “Lá thư ngắn của con đã làm cho Mẹ rất vui thích, Mẹ hài lòng vì con vẫn khỏe mạnh, làm việc và học hành, nhưng Mẹ cũng muốn con luôn vui tươi nữa” (T. 45,1). Mẹ không bao giờ quên nhắc nhở các chị em điều này, là hãy hồn nhiên vui tươi, nó là hoa trái của đức tin, sự khiêm nhường, tình yêu có khả năng đi quá các hình thức, luật lệ, sự đau khổ. Niềm vui thánh này, trong đó tình huynh đệ được nuôi dưỡng bởi ý thức bình an sống dưới sự hiện diện liên tục của Thiên Chúa và dưới ánh nhìn rất dịu hiền của Đức Trinh Nữ, như Mẹ Enrichetta Sorbone đã khắc ghi nơi các thiếu nữ nỗi nhung nhớ về Mornese, như “môi trường Thiên đàng” hay bằng biểu tượng mang nét nữ tính là “tổ ấm”.80 Niềm vui như dấu chỉ của tinh thần và tập quán của Ki-tô hữu yêu mến Thiên Chúa và cảm thấy được Ngài yêu thương lại, là chứng từ của một đức tin không gập mình trên bản thân, trên những đau khổ, những buồn rầu nảy sinh từ trí tưởng tượng, do thất bại vì chưa đạt được các mục tiêu ích kỷ của mình.
Hầu như lời nhắc nhở hãy vui tươi thống lĩnh trong tất cả các lá thư, có khi chi tiết này được nhắc nhiều lần trong cùng một lá thư (điển hình lá thư ngắn số 23 gửi cho các nữ tu ở Las Piedras, đề tài vui tươi được đề cập tới 6 lần!). Niềm vui như cái thắng cho tính ích kỷ và gập mình trên những nhàm chán, trên những nỗi buồn vu vơ, trên sự tẻ nhạt, trong tính tự ái, tất cả đều là cơn dịch đối với tinh thần (x. T. 27,11; 31,1; 47,9.12). Mẹ vui sướng khi thấy các thiếu nữ vui nhảy, cười giỡn và hát ca (x. T. 49,8). Niềm vui cũng là một tác động lành mạnh để xua trừ tính bồng bột thất thường, để làm việc cùng nhau (x. T. 25,5). Ngoài ra, nó còn đặc biệt chất chứa những hoa trái tâm linh, nếu được sống cả trong những khổ đau (x. T. 47,9), những gánh nặng sẽ trở thành nhẹ nhàng nếu được nuôi dưỡng bằng nhiều tiếng ‘thưa vâng’ vui tươi, mà không một tiếng ‘nhưng’ (x. T. 22,9.21). Niềm vui thì lan tỏa và nâng đỡ mọi sự, trong tinh thần đức ái, làm cho lên tinh thần: “Một em là giáo viên, đóng vai anh hề trên sân khấu khiến cho mọi người cười lăn ra” (T.9,8). “Các con hãy giúp Mẹ làm cho Bề trên của các con vui lên” (T. 51,5). Sau cùng, niềm vui là sức khỏe:
“Mẹ vẫn còn một đề nghị muốn con thi hành, đó là con hãy vui tươi, nếu con vui tươi con cũng sẽ sớm được chữa lành, do vậy, can đảm lên!” (T. 13,4).
Các lá thư thông truyền một tình yêu đối với Thiên Chúa không tách khỏi tình yêu và sự tôn trọng đối với sự toàn vẹn của con người, trong sự lo lắng về tình trạng sức khỏe thể lý, thiêng liêng và tâm linh. Ta có thể tóm lược mọi sự trong lời nhắc nhở liên tục là hãy sống vui, như dấu chỉ của tình trạng ân sủng nơi những người con của Thiên Chúa.
Chú thích
67 Giảng viên Xã Hội Học về Gia Đình tại Đại học Chieri.
68 x. AGASSO Domenico, Maria Mazzarello, Il Comandamento della gioia, Torino, SEI 1993,3
69 Năm 1861, những người mù chữ đã là 74% (trên 5 tuổi), nữ 81%; năm 1901 còn 48,7% (trên 6 tuổi), nữ 54%; năm 1911 còn 37,9% (trên 6 tuổi), nữ 42%.
70 Khoảng cuối những năm 1800, một Bề trên của Bộ Giáo Dục Phổ Thông, trong kết luận của cuộc thăm viếng 291 Dòng nữ ở Ý, tập trung trên những Công cuộc Đạo đức, đã viết rằng, đặc biệt trong những thành phố nhỏ nhất “những người nữ giới bình dân không chú ý đến trường học nếu không là nơi dậy về công việc và các thực hành tôn giáo, họ không chăm chú nhiều đến việc học tập là điều thường bị cho rằng mất thời gian”. Cho đến năm 1887 vẫn chưa có người có cử nhân ngoại trừ năm 1893, trước hết là ở Miền Bắc, giữa các lớp cấp cao (có thể cho phép cả những người nữ được tham gia học tập) và trong các ngành học tại trường trung học. (x. CONTI JANNI M., L’educazione femminile in Italia. Studi e proposte, Roma, Antonini 1896, 18, riportato in SOLDANI G (a cura di), L’educazione delle donne, Scuole e modelli di vita femminile nell’Italia dell’Ottocento, Milano, Angeli 1980, 88)...
71 AGASSO, Maria Mazzarello 10. Khi thân phụ từ trần, chính Mazzarello đã minh chứng: “Tất cả những hồng ân đã lãnh nhận và nhất là những gương sáng và nền giáo dục Ki-tô và nghiêm khắc mà ngài đã ban cho mẹ” (sđd 138).
72 Ivi 143.
73 Đã trích trong sđd 135-136
74 Điều này được Nữ tu Maria Posada nhấn mạnh về mối tương quan với cha Costamagna (x. nota 7, p. 60 delle lettere di S. Maria Domenica Mazzarello a cura di M.E. Posada, Roma, Istituto FMA 1980).
75 Cro. I 149.
76 sđd 84.
77 sđd 22.
78 Weil S., Attente de Dieu, Paris, La Colombe 1950, 73. Mi permetto di rimandare a DI NICOLA G.P. - DANESE A., Simone Weil. Abitare la contraddizione. Roma, Dehoniane 1991.
79 Tôi đã làm rõ những ý nghĩa nhân chủng và biểu tượng của tình mẫu tử trong Il linguaggio della madre. Aspetti sociologici e antropologi, Roma, Citta Nuova 1994.
80 Với tinh thần mẫu tử, hạn từ này diễn tả Mẹ Mazzarello trong khi ngỏ lời với Don Cagliero và mời ngài đến viếng thăm Hội dòng, Mẹ tin rằng rằng địa điểm này có thể trở thành nơi để lấy lại sức và nghỉ ngơi cho cha (x. T 6,10). Chính hành vi mẫu tử này bày tỏ trong tình yêu với Chúa Giê-su, Đấng làm lan tỏa tình yêu nồng cháy, ngược hẳn với trời tuyết lạnh bao phủ ngài trong môi trường giáng sinh (x T 4,2). “Bây giờ con mới nhớ. Ở châu Mỹ có Chúa Hài Đồng không? Nếu không có chúng con sẽ đem qua (T 9,2), ngài là Đấng mà “... một lời nguyện nhỏ bé nhưng lại nhận được mọi ơn”. (T. 11,2).