Maria Domenica Mazzarello: một lộ trình thần học

María Esther POSADA

Thần học thiêng liêng là một môn học có mục đích đào sâu đời sống Ki-tô hữu. Ngày nay, nó được phong phú hơn nhờ những kinh nghiệm cụ thể và nhờ vào phẩm chất cá nhân của người Ki-tô hữu, nó không chỉ trở nên như đối tượng suy tư nhưng còn là nguồn mạch của môn học.24

Mỗi lịch sử của một sự thánh thiện Ki-tô giáo, cho dù được phong thánh hay không, đều điển hình cho một lộ trình thần-nhân chủng học duy nhất và không lặp lại, qua đó, tính cách lịch sử, tâm lý và thiêng liêng mang những khác biệt và đặc nét. Đó là một hình thái với vô vàn kinh nghiệm để nhận biết, để nghiên cứu, đào sâu với tính cách thần học, nhưng cũng để chiêm ngắm, bởi vì các Ki-tô hữu đích thực giống như những bức Thánh tượng, những kiệt tác thực sự của Thần Khí về sự thánh thiện, phản ánh khuôn mặt của Đức Ki-tô, vẻ rạng ngời của Chúa Cha cho thế giới.

Sự đa dạng của những hành trình sống cũng là nguyên nhân mời gọi ta cần phải đọc lại những hành trình sống đã hoàn tất ấy trong suốt các thế kỷ. Lịch sử linh đạo Ki-tô giáo phân chia thành những chủ đề và mô tả những đường nét khác nhau trong việc bền bỉ tìm kiếm lý tưởng Tin Mừng của các ki-tô hữu.

Chặng đường tiểu sử – tinh thần

Lộ trình về lịch sử - tiểu sử của Maria Domenica Mazzarello tương đối ngắn: Mẹ sinh ngày 09.05.1837 và từ trần ngày 14.05.1881. Lộ trình này thiếu những dữ kiện lịch sử huy hoàng. Nó hầu như chỉ được nhấn mạnh trong một môi trường thôn dã, được thực hiện trong sự trung thành với đời sống tông đồ giáo dân, dấn thân và được tiếp nối với lý tưởng đời tu mang nét đoàn sủng giáo dục nữ tính, và bởi sứ mệnh của Đấng Đồng Sáng Lập Hội dòng FMA cùng với Don Bosco.

Lộ trình về tiểu sử – tinh thần của Mẹ Maria Domenica Mazzarello có thể chia thành bốn chặng đường, được tô đậm nét bởi sự trưởng thành cách đặc biệt trong đời sống Ki-tô hữu.

Chặng thứ nhất gồm 13 năm, từ khi chào đời (1837) đến khi được Rước lễ lần đầu (1850); chặng thứ hai gồm 10 năm, từ Rước lễ lần đầu (1850) đến năm lâm trọng bệnh (1860), giai đoạn này đã để lại nơi Mẹ dấu ấn của thập giá và đã thay đổi thật sự định hướng sống tinh thần nơi Mẹ; chặng thứ ba gồm 12 năm, trải dài từ giữa cơn bệnh (1860) và đáp trả dấn thân hơn trước lời mời gọi của Thiên Chúa qua Don Bosco và đạt tới đỉnh cao trong việc thành lập Hội dòng (1872); chặng cuối cùng gồm 9 năm (1872-1881) là thời kỳ phát triển mạnh về ơn gọi và sứ mệnh chuyên biệt của Mẹ trong Giáo Hội.

Hành trình đối thần

Mỗi hành trình của người Ki-tô hữu là hành trình đối thần, đó là sự phát triển của các nhân đức đã biết như đức tin, đức cậy và đức mến. Khi đi sâu vào đời sống đối thần, ta có thể nêu rõ những năng động lực riêng biệt và nổi bật của những nhân đức ấy. Điểm khởi hành trong hành trình Ki-tô giáo là đức tin mà họ được lãnh nhận qua việc lắng nghe và đón nhận măc khải của Thiên Chúa. Suốt hành trình, người Ki-tô hữu tìm được sức mạnh nơi đức cậy - vừa thu hút, vừa nâng đỡ tiến trình hướng tới đích điểm của họ, năng động lực có sức hiệp nhất của đức ái còn giúp tăng cường đức tin và đức cậy cho tới sự hiệp nhất tròn đầy.25 Dù những năng động lực riêng này có sức hiện thực trên bình diện hiện sinh. Những năng lực đối thần qui về sự hiệp nhất bản thể của tình yêu, cuốn hút con người vào trọng tâm sâu xa của họ và cống hiến cảm thức, ý nghĩa cho toàn bộ hành trình thiêng liêng. Như thế, một tổng thể gồm đức tin, đức cậy và đức ái được xây dựng trên chức năng bổ sung lẫn nhau để tạo nên một thể thống nhất của tình yêu.

Bởi vậy, trong hành trình đời sống Ki-tô hữu, đức ái là khởi đầu và kết thúc của đời sống đức tin, được dẫn đưa tới đức cậy, và bao trọn hành trình hiện hữu của người Ki-tô hữu.

Sự hiệp nhất này thuộc về đời sống đối thần, được biểu tỏ cách cụ thể qua những năng động lực riêng biệt nơi từng nhân đức. Vì vậy, chúng ta sẽ đào sâu hành trình tiểu sử - tinh thần của Maria Domenica Mazzarello như lộ trình đối thần, tức là như sự tăng trưởng cách bền bỉ và tiệm tiến của đức tin, đức cậy và đức ái. Những bước đầu tiên trong đức tin (1837-1850)

Chặng đầu tiên trong lộ trình của Thánh nữ được sống tại môi trường “Mazzarelli bên này”, một khu thuộc về Mornese (Alessandria) vùng Cao nguyên Monferrato.26

Maria Domenica Mazzarello chào đời trong một gia đình thuôc lớp gia trưởng, và sống tại làng Mazzarelli cho đến 11 tuổi (1837-1848).27 Có lẽ vào cuối năm 1848 hay đầu năm 1849, thân phụ của Maria Domenca là ông Giuse Mazzarello và thân mẫu là bà Maddalena Calcagno đã cùng với các con đến sống tại nông trại Valponasca, xa Mornese khoảng ba khắc đồng hồ đi bộ. Họ sống tại đó khoảng 10 năm, bằng nghề trồng nho, trên vùng đất thuê của Bá tước Doria. Công việc nặng nhọc và đời sống Ki-tô hữu sâu xa đã là nét đặc trưng của gia đình, trong đó bé Maria chào đời. Từ môi trường này, Maria được đào luyện về nghị lực, lòng đạo đức, dựa trên bản tính dứt khoát, thẳng thắn, giàu khả năng: nhiệt thành, thực tiễn, trong suốt, tình cảm lành mạnh, biết phản tỉnh và có khả năng thông tri.

Bước đầu tiên tiếp xúc của Maria Domenica Mazzarello với thực tế (thiên nhiên, thế giới nhân loại, thế giới đức tin) là từ người cha.28 Từ thân phụ, thiếu nữ Maria học ý nghĩa đích thực của lao động mà cô sẽ đảm nhận, bao hàm trong đó ý nghĩa của khổ chế và sư phạm của nó, tạo nên một trong những nội dung chính yếu trong linh đạo của cô.

Cũng từ thân phụ, Maria kín múc được cảm thức thực sự về Thiên Chúa mà cô sẽ diễn tả cách đơn sơ chân thực của mình, đặc trưng cho kinh nguyện và tu đức của cô sau này.

Trong kinh nghiệm mở ra với thực tế của Maria Mazzarello có sự hiện diện của Cha Pestarino,29 ngài giữ vai trò trung gian trong đời sống của Thánh nữ. Quả vậy, trong nền đào luyện thiêng liêng đích thực mà Mẹ đảm nhận, mang trọn vẹn ý nghĩa bối cảnh của cuộc canh tân khỏi tư tưởng của phái Giansenis trong môi trường Mornese, được cha phó cổ võ. Sự linh hướng của ngài được chỉ định với các nguyên tắc rõ ràng, mang tính tiệm tiến và liên tục,30 khởi đi từ sự hãm dẹp những thứ bên ngoài, nhằm rèn luyện và vun trồng thái độ nội tâm.31 Trọn hành trình tu đức được trợ giúp và hướng tới một đời sống bí tích sâu xa.32

Trong lộ trình thiêng liêng này, Maria Domenica Mazzarello tiến bước trong hành trình đức tin. Sự thao luyện đức tin qua sự giáo dục của thân phụ và nhờ sự linh hướng khôn ngoan của Cha giải tội. Sau lần Xưng tội chung đầu tiên, và nhất là sau khi Rước lễ lần đầu, ta mới có thể nói về một đức tin hướng tới nội tâm hơn, và như thế, về một đời sống cầu nguyện mang tính cá nhân hơn.

Một đức tin được nội tâm hơn (1850-1860)

Môi trường lịch sử – địa lý của giai đọan này là địa điểm Valponasca (1848-1858) và ngôi nhà ở Valgelata trong làng. Thời gian sống tại Valponasca là một trong những thời gian phong phú hơn cả trong việc đào luyện thiêng liêng của Maria Domenica, và khi trở về làng, cô đã trưởng thành hơn vì đã được tôi luyện trong hy sinh và được kiện cường nhờ ân sủng.

Có thể nói rằng đối với Mazzarello, Valponasca giống như trường học của đời sống. Nhờ tiếp xúc với thiên nhiên, Maria hiểu được nội dung cốt lõi của đức tin trong sự cô tịch, qua thinh lặng, qua làm việc. Cô thực hiện những điều này nơi chính mình và đồng hóa nó trong chiều sâu. Ta có thể thấy những hoa trái trưởng thành trong đời sống của Maria được sản sinh trong thời gian này.

Những dấu chỉ rõ ràng của tiến trình nội tâm hóa đức tin là kinh nguyện, được diễn tả cách thuần túy cá nhân. Khả năng nối kết giữa kinh nguyện và làm việc, sự mãnh liệt và độ sâu trong mối tương quan giữa chiêm ngắm và sự thanh khiết, đã diễn tả sự trưởng thành và ý nghĩa hơn cả trong lời khấn khiết tịnh.33

Kinh nguyện của Maria thực sự mang tính cá nhân chứ không phải do Cha giải tội “áp đặt”. Chính cha Pestarino đã phải có một vài cách thức nào đó để hãm bớt lòng nhiệt thành của Maria, để cô không phải đi tham dự Thánh Lễ vào những giờ ngoại lệ, băng qua những con đường trắc trở vào mùa đông giá lạnh mỗi buổi sáng.34 Điểm nổi bật của giai đoạn này là kinh nguyện mà Maria Domenica thực hiện vào mỗi buổi chiều, bên cạnh chiếc cửa sổ trong phòng - cửa sổ mà ngày nay được gợi nhớ như con mắt của sự chiêm niệm, hướng thẳng vào nhà Tạm của Giáo đường ở phía xa xa. Lối cầu nguyện kéo dài trong suốt ngày sống, với những lần quì gối thờ lạy Chúa giữa những luống nho, đã làm cô thực sự nổi bật giữa các bạn.

Trong bầu khí thiêng liêng này, Maria hiểu thế nào là chiêm ngắm sự vô biên của Thiên Chúa và vẻ đẹp của Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm, cô tận hiến chính mình với lời khấn khiết tịnh tận trong sâu thẳm của linh hồn. Quả vậy, sự chiêm niệm và khiết tịnh là hai thực tại gắn kết với nhau cách mật thiết như toàn bộ truyền thống thiêng liêng Ki-tô giáo diễn bày. Trong giai đoạn này, việc Maria Domenica thuộc về Hội Con Đức Mẹ Vô Nhiễm đặc biệt ý nghĩa. Hội được thành lập tại Mornese do một nữ giáo dân người đời tên là Angela Maccagno, với sự cổ võ của cha Pestarino, được nhà thần học nổi danh người Genova là cha Giuse Frassinetti đồng hành và hướng dẫn, với các đường hướng, cơ cấu và nội dung thiêng liêng. Đối với Maria, nhóm đã rộng mở trước mắt cô lãnh vực tông đồ. Trong nhóm đã tạo nên những mối tương quan mới, tận hiến cho Thiên Chúa “trong thực hành đức ái” như văn thức tận hiến của nhóm Con Đức Mẹ Vô Nhiễm đã nêu lên.35 Việc “thực hành đức ái” này sẽ đưa đẩy cô đến việc liều mạng sống để đi chăm sóc gia đình người bà con bị nhiễm bệnh dịch năm 1860, tại Mornese.36

Như thế, lộ trình thiêng liêng của Maria Domenica vào những năm 1850-1860 biểu lộ một đức tin thực sự được nội tâm hóa, được trưởng thành trong đức cậy và đem lại hoa trái của đức ái đối thần. Sự trưởng thành trong đức cậy (1860-1872)

Giai đoạn này được Thánh nữ sống trước hết trong môi trường lịch sử - địa dư của thôn Mazzarelli, nơi cô từ Valponasca trở về vài tháng để chăm sóc gia đình họ hàng. Tiếp đến là ngôi nhà ở Valgelata trong làng (1860-1867); rồi đến nhà Mẹ Vô nhiễm sát cạnh nhà thờ xứ, nơi khởi sự đời sống chung của các Nữ tu Con Đức Mẹ Phù Hộ tương lai, và sau cùng tại Lưu xá Mornese, trụ sở của cộng đoàn tiên khởi sau việc thành lập chính thức của Hội dòng.

Cơn bệnh đã lấy đi những năng lực trẻ trung của Maria và nó trở thành cơ hội để cô làm kinh nghiệm trong độ sâu về sự mỏng dòn thể lý, tâm lý, thiêng liêng. Tận cùng của kinh nghiệm này chỉ tìm được sức mạnh hồi phục trong sự phó thác, tin tưởng vào Thiên Chúa, được trực giác và nhận biết trong ánh sáng mới. Sức mạnh và ánh sáng này không gì khác hơn là đức cậy được sung mãn trong Bí tích Thánh Tẩy, cùng với đức tin và đức ái. Maria Mazzarello đã sở hữu được đức cậy cách vững vàng và sáng ngời hơn qua thanh luyện của thử thách. Lời nguyện mà Maria Domenica nói lên trong thời gian dưỡng bệnh tỏ lộ tình trạng của linh hồn, và là sự chuyển động kép đôi của nội tâm. Đó là nhận biết sâu xa về tính thụ tạo của mình và niềm cậy trông không lay chuyển vào Thiên Chúa, được nhận thức như khởi thủy và kết thúc của hiện hữu mình: “Lạy Chúa, nếu trong lòng nhân từ mà Ngài muốn cho con được sống thêm vài năm nữa, thì xin hãy cho con được sống trong thầm lặng, để mọi người quên con đi và đừng ai biết tới con, ngoại trừ Chúa”.37

Nền tảng cho ý thức này dõi theo hai thời điểm nổi bật trong đời sống của Thánh nữ, cả hai được nâng đỡ và được thúc đẩy bởi đức cậy, mà đối với Maria, đức cậy ấy không tìm thấy nguồn mạch nơi lý lẽ nhân loại nữa, nhưng trong chính mầu nhiệm của Chúa Quan Phòng để bắt đầu một lịch sử mới.

Trong bốn năm kế tiếp sau thời gian mắc bệnh, Maria đã đặt nền cho trực giác về giáo dục, được diễn bày như sự đi kèm theo và như hệ quả cho sự chuyển hướng nội tâm của cô.38

Nguồn gốc của việc tông đồ nơi Maria được gắn kết với đau khổ, một loại khổ đau được mệnh danh là sự hiểu lầm và cô đơn. Nỗi đau khổ này được sống trong sự thinh lặng có sức giải thoát khỏi những chống đối và đầy tin tưởng, chuẩn bị cho việc khai mở một sứ mệnh mang tính Giáo hội đích thực.39

Hình tượng của vị linh mục miền Torino - Cha Gioan Bosco - xuất hiện vào năm 1864 đã tăng thêm niềm tin tưởng nội tâm này và mở ra những chân trời mới rộng lớn hơn. Được cha Pestarino giới thiệu, cùng với trực giác sáng suốt, và như vị ngôn sứ, Don Bosco thoáng thấy các ân điển tự nhiên và siêu nhiên nơi cô thiếu nữ thuộc Hội Con Đức Mẹ Vô Nhiễm cùng với các thiếu nữ khác. Maria Domenica trực giác được sự thánh thiện của Don Bosco, cô cảm thấy mình bị cuốn hút và sau này đã gắn bó với kế hoạch của ngài là thành lập Hội dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ, một Hội dòng mà Don Bosco muốn là “đài kỷ niệm sống động” diễn tả lòng tri ân của ngài đối với Mẹ Thiên Chúa. Sự hoàn hảo của đức ái (1872-1881)

Bối cảnh lịch sử - môi trường mà Thánh nữ sống vào giai đoạn cuối cùng của cuộc đời là Lưu xá Mornese, trụ sở đầu tiên của cộng đoàn Con Đức Mẹ Phù Hộ (1872-1879) và Tu Viện “Nostra Signora delle Grazie” tại Nizza Monferrato, Nhà Mẹ của Hội dòng. Tại đây Thánh nữ đã sống hai năm cuối cùng (1879-1881).

Đây là giai đoạn định hình và hiện thực sứ mệnh biệt định của sứ vụ Đồng Sáng Lập, mà Maria Domenica Mazzarello được mời gọi để thực hiện trong Giáo Hội, vì mưu cầu lợi ích cho những người trẻ.

Sứ mệnh này tìm được nền tảng sâu xa trong chức năng là “Mẹ” mà Mazzarello đã nhập thể và sống tròn đầy đối với Gia đình tu sĩ mới. Vì vậy, ta có thể nói rằng ngoài nền tảng thuộc hữu thể học thì chính căn tính làm mẹ, và cũng là người đào luyện cộng đoàn tiên khởi của Mẹ, đã kiến tạo nên khía cạnh lịch sử và thiêng liêng cho tước hiệu mang tính pháp lý của “Đấng Đồng Sáng Lập thực sự”.40

Từ khi đảm nhận cho tới khi hoàn thành sứ mệnh của mình, Mazzarello đã thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng dưới những hình thức khác nhau: trực tiếp và liên tục đào luyện các chị em ngang qua lời nói, viết lách, nhiều chuyến hành trình do việc thành lập hay đi thăm các cộng đoàn. Nhưng trước hết qua việc dâng hiến đời sống, những thực hành đức ái nhẫn nại và nhân hậu.

Đối với Mẹ, việc đào luyện các chị em qua chính đời sống luôn là cách thức ưu biệt của giáo dục. Mẹ viết: “Mẹ hài lòng vì các chị em tốt lành và làm việc, bổn phận của chúng ta là hãy làm cho họ luôn lớn lên về nhân đức, trước tiên bằng gương sáng, bởi những điều được dạy bằng gương sáng sẽ khắc vào tâm hồn sâu hơn và đem lại nhiều lợi ích hơn, rồi sau mới đến lời nói”.41

Với sứ mệnh thiêng liêng của người mẹ và nhà giáo dục của các chị em tiên khởi này, Thiên Chúa đã chuẩn bị nữ tu Maria Domenica và Ngài đã nâng đỡ Mẹ ngang qua sự nâng đỡ đặc biệt như trong dự án phong thánh đã chỉ ra, đó là ơn biện phân của Thần Khí.42 Ân điển này tặng ban cho Mẹ một đặc nét là sự khôn ngoan, được cụ thể hóa trong sự khiêm nhường và đức ái là những nét nổi bật hơn cả trong linh đạo của Mẹ. Trong giai đoạn kết thúc lộ trình thiêng liêng này của Thánh nữ Maria Domenica Mazzarello, ta được chứng kiến sự tăng trưởng nhân bản và thần học của Mẹ đạt tới sự trưởng thành tròn đầy. Đức tin, đức cậy, đức ái là nền tảng của đời sống này. Nó thống nhất xoay quanh một tâm điểm duy nhất là Thiên Chúa, chiếm hữu được nét đơn sơ của tinh thần; thực hiện một sứ mệnh rộng lớn, đó là sứ mệnh làm Mẹ và là Đấng Đồng Sáng Lập của một Gia đình tu sĩ mới trong Giáo hội.


Chú thích

24 x. RUIZ SALVADOR Federico, Le vie dello Spirito, Sintesi di Teologia spirituale, Bologna, EDB 1999. x. đặc biệt chương I, 5-32; x. CASTELLANO Jesús, Teologia Spirituale, in CANOBBIO Giacomo – CODA Piero [ed], La Teologia del XX secolo. Un bilancio, 3. Prospettive pratiche, Roma, Città Nuova 2003, 195-322; GRACÍA Jesús Manuel. La Teologia Spirituale oggi. Verso una descrizione del suo statuto eposremologico, in AA Vv., Atti del Congresso Internazionale OCD, Roma, Edizioni del Teresianum 2001, 205-238.

25 x. BERNARD Charles-Andre’, Teologia Spirituale, Milano, Paoline 1982, 160-161.

26 Có thể phân biệt nhóm “Mazzarelli” bảo thủ tại Mornese ngay từ 1600, có hai nhóm nhỏ: ‘Mazzarelli bên kia’, là nhóm kỳ cựu hơn, tọa lạc phía tây và ‘Mazzarelli bên này’, tức là gần làng Mornese hơn. x. Maria Esther POSADA. Nota storiografica. Dati relativi all’infanzia e alla fanciullezza di S. Maria Domenica Mazzarello, in Rivista di Scienze dell’Educazione 19 (1981) 229-239.

27 x. Sổ Rửa tội lưu tại Mornese trong Công hàm của Giáo xứ (năm 1840-1860).

28 x. CAPETTI Giselda, Cronistoria dell’Istituto delle FMA I, Roma, Istituto FMA 1974, 42.

29 Cha Domenico Pestarino sinh trưởng tại Mornese năm 1817, từ trần năm 1874 sau một đời tông đồ nhiệt thành. Ngài là cha phó tại Mornese và là vị linh hướng của Thánh nữ trong suốt 27 năm. Ngài đã trở thành SDB và ở lại Mornese như vị linh hướng địa phương cho các FMA. x. MACCONO Ferdinando, L’Apostolo di Mornese. Sac. Domenico Pestarino, Torino, SEI 1926.

30 x. Cronistoria I 41.46-67

31 x. sđd I 39-40.42-48.50

32 x. sđd I 38.47.50

33 x. sđd I 53-54.

34 x. sđd I 56.

35 x. sđd I 64-86.

36 x. sđd I 87-89.

37 MACCONO, Santa Maria Domenica Mazzarello I, Torino, Istituto FMA 1960, 83-84.

38 x. Cronistoria I 97-98; VRANCKEN Sylvie, Il tempo della scelta. Domenica Mazzarello sulle vie dell’educazione. Roma, LAS 2000.

39 Đau khổ đặc biệt là giây phút từ bỏ và cô đơn, được Maria sống năm 1864 khi mà vì vâng phục Cha linh hướng và do sự bất ổn trong nội bộ Hội FMI, cho dù vô tội nhưng Maria Domenica đã phải sống biệt lập trong một thời gian thầm lặng tại Valponasca. Thời gian này được gọi là ‘Valponasca thứ hai’, thời gian của thử thách trong đối chọi lại với ‘Valponasca thứ nhất’ là thời hoa niên hồn nhiên và cần mẫn của cô.

40 x. FIORA Luigi, Storia del titolo di “Confondatrice” conferito dalla Chiesa a S. Maria Domenica Mazzarello, in POSADA. [ed], Attuale perché vera. Contributi su S. Maria Domenica Mazzarello, Roma, LAS 1987, 37-51; POSADA, Significato della “validissima cooperatio” di S. Maria Domenica Mazzarello alla fondazione dell’Isrituto delle Figlie di Maria Ausiliatrice, sđd. 53-58.

41 T. 17,1

42 x. SACRA CONGREGATIO RITUUM. Aquen, Beatificationis et canonizationis Servae Dei Mariae Dominicae Mazzarello, Primea Antistutae Instituti Filiarum Mariae Auxiiatricis. Positio super virtutibus. Summarium super dubio. Romae, Guerra et Belli, 1934, 403; Đc De discretionis dono 410; De cordium scrutatione, 412; De rebus spiritualibus acute disserebat.

Như nguồn nước trongNhững đường nét thánh kinh trong tập thư tín