Những đường nét thánh kinh trong tập thư tín
Maria Pia GIUDICI 43
Ta không nhìn thấy men trong một ổ bánh mì thơm ngon làm tại gia đình, cho dù men là nguyên nhân để bánh mì trở nên cái nó phải là, nghĩa là trở thành một thứ lương thực tinh ròng có sức nuôi dưỡng và làm cho người ta lớn lên. Ta có thể hình dung như vậy đối với Lời Chúa trong thư của Mẹ Mazzarello.
Trong các lá thư, Lời Chúa không được trích dẫn một cách minh nhiên. Tuy nhiên, khi đọc những lá thư ở chiều sâu, ta khám phá ra rằng: ẩn giấu dưới mỗi hàng chữ cho dù đơn sơ ấy là một sức đẩy, biểu lộ tính đích thực chất men Kinh Thánh, trong tất cả những gì được dệt lên bằng đời thường, được đồng hóa cách sinh động trong cõi lòng.
Phúc lành của Thiên Chúa
Giáo lý của Giáo hội Công Giáo nêu rõ một thực tại nền tảng: “Từ khởi thủy cho tới tận thế, mọi công trình của Thiên Chúa đều là phúc lành. Từ thi ca phụng vụ của cuộc tạo dựng đầu tiên (Khởi nguyên) cho tới các thánh ca của thành thánh Gierusalem trên trời (Khải huyền), các tác giả thánh được linh hứng đều loan báo kế hoạch cứu độ như một phúc lành vô biên của Thiên Chúa” (1079).
Trong các thư Mẹ gửi cho Don Bosco và cho các cha Sa-lê-diêng đáng kính khác, Mẹ Maria Mazzarello khẩn nài phúc lành của Thiên Chúa tuôn đổ chan hòa trên Don Bosco, trên các cha Sa-lê-diêng, trên chính Mẹ, cho các công cuộc, và những người mà Mẹ hứa cầu nguyện cho.
Mẹ viết cho Don Bosco: “Con sẽ còn cầu xin để thánh Bảo trợ ban những phúc lành đặc biệt trên tất cả các công cuộc của cha” (T. 3,4). Mẹ viết cho cha Cagliero bên Mỹ để tường trình về Lễ Giáng Sinh tại Mornese: “Hết thảy mọi người chúng con đều xin Chúa Hài Đồng một phép lành đặc biệt cho cha và cho tất cả các vị thừa sai truyền giáo của chúng ta” (T. 4,8).
Cũng trong thư gởi cho cha Cagliero, Mẹ khẩn khoản: “Xin cha gửi phép lành cho từng người chúng con. Sau hết, xin cha ban phép lành cho con” (T. 7,15). Mẹ viết cho nữ tu Borgna Giovanna: “Xin Thiên Chúa chúc lành cho con và biến con thành tất cả của Ngài” (T. 19,3).
Từ những bản văn này và từ rất nhiều bản văn khác, ta thấy thật sự Mẹ Mazzarello muốn sống bằng phép lành của Thiên Chúa (x. T. 5,13; 7,9; 8,3; 21,3).
Mẹ là người luôn mang trong tim lời chúc lành “Thiên Chúa Cha của Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta, từ cõi trời đã thi ân giáng phúc cho chúng ta” (Ep. 1,3).
Sự ưu tiên là tình yêu Thiên Chúa
Mẹ cảm nhận rằng kế hoạch cứu độ là sự kết dệt phúc lành của Thiên Chúa, Đấng yêu thương con người và yêu mến sự sống. Đề tài về lời đáp trả yêu thương đối với Thiên Chúa Tình Yêu được xây dựng trong hiện hữu của Mẹ và được thể hiện rõ trong các lá thư. Mẹ viết cho nữ tu Angela Cassula, trách nhiệm nấu bếp: “Vì cứ ở gần lửa nên chắc giờ này con đã được lửa tình yêu Chúa đốt cháy rồi phải không?” (T. 22,11). Với nữ tu Filomena, Mẹ thân thiện viết với chút hài hước: “Con có nóng giận khi bếp lửa không cháy không? Con hãy kiên nhẫn và hãy lo thắp lên nơi mình tình yêu thần linh” (T. 23,5).
Vào tháng 12 năm 1876, khi viết cho cha Cagliero, Mẹ khẳng định: “Đức ái ngự trị khắp nơi, con thiết tha xin Chúa ban ơn để chúng con được tiếp tục như vậy. Hơn nữa, để chúng con có thể chiếm được nhiều nhân đức, và trên hết là Tình Yêu Thánh của Ngài” (T. 9,6). Lẽ nào Thánh nữ đã không nghĩ rằng “Thiên Chúa là tình yêu, ai ở trong tình yêu thì người ấy ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy”? (1 Ga 4,16). Phải chăng Mẹ đã chẳng khao khát như Chúa Giê-su: “Ta đến để đem lửa tới và điều Ta muốn lại không là làm cho chúng cháy lên sao?” (Lc 12,14).
Cũng với cha Cagliero, Mẹ xin ngài hãy nhớ đến các chị em: “Xin cha khẩn cầu tha thiết với Chúa Giê-su và Mẹ Maria, để Ngài làm cho chúng con thực sự trở nên người yêu của Thiên Chúa” (T. 5,11). Một cách rõ ràng, mệnh lệnh của Cựu Ước “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết sức lực” đã được Chúa Giê-su tái đề xuất trong Mt 22,37 trở nên hết sức thân thương và sâu xa đối với Mẹ.
Khi viết cho cha Lemoyne, Mẹ diễn tả niềm xác tín: “Nếu con yêu mến Chúa Giê-su với tất cả cõi lòng thì con cũng biết làm cho những người khác yêu mến Ngài” (T. 11,2). Trong Diễm Tình Ca đã có câu: “Xin đặt em như chiếc ấn trên trái tim anh... Phải, tình yêu mãnh liệt như tử thần” (Dc 8,6).
Sự tín thác vào Thánh Kinh là cội rễ của niềm vui thánh
Sư ưu tiên của tình yêu có sức tổng hợp các năng lực của con tim, nó cho phép Maria Domenica Mazzarello cảm nghiệm Thiên Chúa như “đá tảng ơn cứu độ” (x. Đnl 32,4; Tv 18,3; 62,3; 7,36) tin Chúa Giê-su đã đến không để lên án nhưng để cứu độ (x. Ga 12,47) và vì vậy, Mẹ viết cho nữ tu Ottavia: “Con đừng bao giờ thất đảm vì bất cứ nghịch cảnh nào, con hãy đón nhận mọi sự từ nơi bàn tay rất thánh của Chúa Giê-su, hãy đặt tất cả sự tín thác của con vào Ngài và đặt mọi niềm hy vọng nơi Ngài” (T. 65,1).
“Luôn tin tưởng vào Thiên Chúa” được nhắc đi nhắc lại trong các Thánh Vịnh, cũng là mạch máu chảy trong khắp các lá thư của Thánh nữ. Đề tài “niềm vui thánh” là một đề tài có nguồn gốc Thánh Kinh, là đặc nét không chỉ có trong các lá thư, mà cả trong nhân cách của Mẹ, là hiền thê của Thiên Chúa, cách thiêng liêng trong Thiên Chúa, Thánh nữ còn là người mẹ vui tươi và phong phú. Tác giả thánh viết: “Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi Người luôn che chở phù trì. Vâng, có Người, chúng tôi mừng rỡ, vì hằng tin tưởng ở Thánh Danh” (Tv 33, 20-21).
Chúng ta sẽ chẳng kết thúc được những minh họa nếu muốn đi sâu vào đề tài của niềm vui được xem như vọt trào từ sự tin tưởng và trở thành năng lực thiêng liêng sâu xa. Chỉ cần nghĩ tới kinh Magnificat, qua đó Đức Maria, người nữ tuyệt hảo, đã “mừng rỡ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ của Mẹ” (Lc 1,46) là đủ.
Với niềm vui, Thánh nữ đã kín múc nơi nguồn mạch cứu độ này khi khẩn thiết xin các con cái của Mẹ hãy vui vẻ, bởi Mẹ biết rằng “Vui tươi là dấu chỉ của một con tim tha thiết yêu mến Chúa” (T. 60, 5), trong khi đó sự buồn rầu chính là mẹ của nguội lạnh (x. T 27,11; 31,1).
Theo Mẹ Maria Mazzarello (x. T. 43, 2) chính Thiên Chúa muốn ta sống vui tươi, vì Mẹ đã nghiền ngẫm lời Thánh Kinh: “Hãy phụng sự Thiên Chúa trong niềm vui” (Tv 100, 2). Chúa Giê-su đã dừng lại trên việc liên kết niềm vui với việc tuân giữ các giới luật, sự ở lại đích thực của đời sống trong tình yêu: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn”. (Ga. 15, 9-11).
Đề tài chết đi cho chính mình để sống cho Thiên Chúa
Có thể nói nguyên nhân niềm vui diễn bày trong các thư của Thánh nữ Maria Mazzarello là tư tưởng thống lĩnh toàn tập thư tín. Tuy nhiên, điều cần quan tâm hơn chính là ý tưởng “chết đi cho chính mình”, được đón nhận như “bản chất”, “phẩm chất” của “niềm vui thánh”, là đặc nét riêng của người sống sự hoán cải, của người môn đệ dám chết đi cho con người cũ để mặc lấy sự sống của con người mới (x Ep. 4,17-24; Cl. 3, 9).
Mẹ là người đầu tiên xin được chết đi cho chính mình và cho tính tự ái đã làm Mẹ lảo đảo trong từng giây phút, như một tên “say rượu” (x. T. 9, 9). Khi viết cho các chị em truyền giáo, Mẹ dùng hình ảnh cụ thể:
“Các con phải chiến thắng chính mình, nếu không, mọi sự sẽ trở thành không thể chịu nổi và những sự hiểm độc, dèm pha như những mụn nhọt lại mọc lên trong lòng các con”(T. 22,21).
Đó là khổ chế của cuộc chiến thiêng liêng, như điều kiện giúp cảm nhận niềm vui! Nó không đơn giản là sự duy ý chí vốn làm cho thất đảm, nhưng: “Chúa Giê-su phải là tất cả sức mạnh của chúng ta, với Ngài, mọi gánh nặng đều sẽ trở thành nhẹ nhàng, những mệt nhọc thành êm dịu, các gai góc thành dịu dàng” (T.50). Làm sao ta lại không nghe vang lên lời mà Chúa Giê-su đã nói: “Không có Thầy, anh em không thể làm gì được, nhưng trong Thầy anh em sẽ đem lại nhiều hoa trái” (x. Ga 15) và “Ách của Ta thì êm ái, gánh của Ta thì nhẹ nhàng” (Mt. 11,30) trong những diễn tả này?.
Có khi Mẹ dùng cả những thổ ngữ, Mẹ khuyên hãy chà đạp tính tự ái, hãy chiên nó đi (x. T. 23,1), Mẹ nhìn việc thực hành cái chết này là để đạt tới sự sống.
Quả vậy, ở chỗ này hay ở chỗ khác, lối viết của Mẹ có sự liên quan giữa ngôn ngữ và phong cách, đi đôi với lời khuyên được thực hành trong sự khiêm tốn và kiên nhẫn, đã là sự đo lường và dung mạo của tình yêu. Như thế, ta hãy sống và luôn tích cực!
Thánh Phao-lô đã chẳng mời gọi chúng ta hãy chôn sâu trong sự chết của Đức Ki-tô bằng việc chết đi mỗi ngày cho chính mình, để hưởng nhờ sự phục sinh của Ngài ngang qua tình yêu đó sao? (x. Rm 6).
Khiêm nhường và nhẫn nại là điều Mẹ đã viết trong các lá thư (x. T. 34,1; 35,10; 49, 2), khiêm nhường và vâng phục (x. T. 5, 6; 37, 6); cần khiêm tốn trong mọi công việc của chúng ta, không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng việc làm (x. T. 40,3).
“Hãy học cùng Ta - Chúa Giê-su nói - không vì Ta quảng đại, hào hiệp, quyền năng, nhưng học cùng Ta vì Ta khiêm nhường và hiền lành trong lòng” (x. Mt 11, 29).
“Các con hãy nói với các em rằng đừng chỉ nghĩ mặc chiếc áo dòng đen mà thôi, nhưng cần mặc chiếc áo của tất cả nhân đức cần thiết cho một nữ tu, là người muốn được gọi là hiền thê của Chúa Giê-su. Các em hãy lo để có tinh thần hãm mình, hy sinh, vâng phục, khiêm nhường, từ bỏ tất cả những gì không phải là của Thiên Chúa” (T. 24, 2).
Những diễn tả của Mẹ gợi lại tư tưởng của thánh Phao-lô “Anh em hãy mặc lấy Đức Giê-su Ki-tô” (Rm. 13, 14) với những diễn ý tương tự: “Anh em phải mặc lấy con người mới” (Ep. 2, 24); “Hãy mặc lấy khí giới của Thiên Chúa” (Ep. 6, 41; Cl. 9,10-12).
Sự tối thượng của đời nội tâm
Mẹ cũng nhấn mạnh rằng các nhân đức được mặc bên trong nội tâm, còn chiếc áo dòng đen chỉ mặc bên ngoài. Vì thế, Mẹ xin cha Cagliero cầu nguyện “để tinh thần này được tiếp tục và gia tăng hơn, và để cho các nhân đức được triển nở bên trong hơn là bề ngoài” (T. 7, 2). Mẹ khuyên nữ tu Giovanna Borgna: “Hãy làm thế nào để luôn là mẫu gương của nhân đức, của khiêm nhường, của bác ái và của vâng phục. Thiên Chúa nhìn vào cõi lòng, nên điều cần thiết là những nhân đức này phải được thực hành với chính cõi lòng hơn là bằng những hành vi bên ngoài” (T. 19,1).
Chúng ta không thể không nhớ tới 1Sm 16,7: “Con người nhìn xem bên ngoài, Thiên Chúa nhìn trong cõi lòng” và đoạn Is 11,3: “Thiên Chúa không đoán xét theo những gì bên ngoài”.
Chống lại điều mà Chúa Giê-su gọi là “men của biệt phái là sự đạo đức giả” (Mt 16,6; Mc 8,15; Lc 12,1), vụ hình thức, vụ luật, những thứ được xem là ký sinh trùng ăn bám làm hại tới sức khỏe thiêng liêng của đời thánh hiến, Mẹ Mazzarello đi thẳng tới sự thật. Quả vậy, Mẹ khuyên hãy hành động với ý ngay lành, để luôn “thẳng thắn và chân thành với mọi người” (T.17,1). Đồng thời, Mẹ chỉ ra chìa khóa cho một lối sống giản dị và trong suốt: “Chị em hãy liên kết chặt chẽ với Chúa Giê-su, chỉ làm việc vì đẹp lòng Ngài mà thôi” (T. 22, 8). “Chị em hãy hành động với mục tiêu duy nhất là làm cho Chúa hài lòng” (T. 23, 4).
Sự đơn sơ của Tin Mừng
“Đơn sơ như chim bồ câu” (Lc 10,3); “Hãy tìm Thiên Chúa với tâm hồn đơn sơ” (Kn 1,1) được các Giáo phụ (nhất là Cassiano) kín múc từ nơi Thánh Kinh và đòi hỏi các môn đệ của mình, như chỉ định nền tảng cho hành trình nội tâm. Trong các thư của Mẹ Mazzarello ta cũng bắt gặp những âm vang Thánh Kinh đó. Mẹ viết cho nữ tu Giuseppina Pacotto: “Để sống vui tươi, con cần tiến bước với sự đơn sơ, đừng tìm những thỏa mãn nơi các tạo vật cũng như nơi những thứ thuộc thế gian này. Con hãy chỉ nghĩ tới việc chu toàn tử tế bổn phận của con vì yêu mến Chúa Giê-su chứ đừng nghĩ đến điều gì khác. Nếu con khiêm nhường, nếu con tin tưởng vào Ngài, thì mọi sự còn lại Ngài sẽ hoàn tất” (T.24, 4). Quả là tuyệt vời khi đức khiêm nhường như mảnh đất phì nhiêu của đơn sơ, là sự tín thác nơi Thiên Chúa, gợi nhắc câu “Hỡi Israel, hãy trông cậy vào Thiên Chúa” của Thánh Vịnh 132. Trong Thánh Vịnh này, hình ảnh nổi bật là trẻ thơ được nâng niu trên cánh tay mẹ hiền với tâm hồn không kiêu hãnh, không vênh vang, không kiếm tìm những điều vĩ đại (x. Tv 131).
Ai yêu mến Thiên Chúa thì yêu thương anh em
Khiêm nhường, đơn sơ, vâng phục nhằm tuân giữ giới luật, Thánh Kinh nói: ai thực hành nó thì chu toàn mọi lề luật (Rm 13,8). Đó là giới luật thứ hai, gắn kết mật thiết với giới luật thứ nhất, điều mà Tông đồ Gioan đã viết: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.” (1Ga 4, 20).
Do đó, với sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, Mẹ Maria Mazzarello khẳng định: “Một người con thực sự yêu mến Chúa Giê-su thì sống hòa hợp với mọi người” (T. 49, 6).
Giới luật tình yêu huynh đệ được Thánh Kinh nhấn mạnh, được tái xác nhận một lần nữa trong các thư và diễn tả theo kiểu thực hành đức ái: thứ đức ái xuất phát từ tự do (x. T. 35,3) và trở thành đích thực nhờ sửa lỗi huynh đệ (x. T. 17,1). Chỉ việc thực hành đức ái huynh đệ này mới thể hiện điều mà Chúa Giê-su đã cầu nguyện tha thiết cùng Chúa Cha trong lời kinh của Ngài cho chúng ta: “Xin cho tất cả chúng con nên một” (Ga. 17,11).
Quả vậy, Mẹ viết cho các nữ tu bên kia đại dương: “Cả khi chúng ta bị chia cách bởi không gian rộng lớn, chúng ta hãy làm nên một cõi lòng duy nhất để yêu mến Chúa Giê-su rất kính yêu của chúng ta” (T. 18,2). Dường như con tim của Mẹ là tiếng vọng của con tim người môn đệ yêu dấu khi viết: “Các con tốt lành của Mẹ, các con hãy yêu thương nhau!... Ôi! Mẹ được an ủi biết bao khi nhận được tin từ các nhà và nghe thấy rằng các con sống bác ái với nhau, sẵn sàng vâng lời, gắn bó với Luật Thánh. Ôi! Khi đó tâm hồn Mẹ rơi lệ vì được an ủi và Mẹ xin Thiên Chúa ban phép lành cho tất cả!” (T 26,4).
Niềm hy vọng được chúc phúc
Mẹ sống cái tạm thời một cách hiện thực, trong các thư, Mẹ Mazzarello nói đến Thiên đàng nhiều hơn là về sự chết, trong tinh thần tỉnh thức của Thánh Kinh và vui tươi chờ đợi của dụ ngôn Mười cô trinh nữ khôn ngoan (x. Mt 25,1-12). Mẹ nói về nữ tu Maria Belletti (một thiếu nữ đã “mắc” lưới của Đức Ki-tô qua chứng tá hùng hồn của Mẹ về Đức Ki-tô) “đang chuẩn bị đi về Thiên s9àng” (T.7,8). Mẹ nói với cha Cagliero về nhà mà các FMA đã có ở Thiên đàng (x. T. 7,3) đồng thời viết cho ngài rằng Mẹ muốn đi vào “ngôi nhà tuyệt vời ấy” (T. 9,9). Với sự thân tình con thảo, Mẹ cầu chúc cha Lemoyne, sau khi đã thánh hóa nhiều linh hồn được về Thiên đàng, để hướng dẫn các nữ tu FMA một lần nữa (x. T. 11,1).
Khi viết thư cho nữ tu Angela Vallese, Mẹ nhắc đến “dịp lễ Thiên đàng” (x. T. 22,1) và cho nữ tu Laura Rodriguez (x.T. 18,1), Mẹ viết cùng một diễn tả ấy: “Hãy can đảm lên! Sau ít ngày chiến đấu, chúng ta sẽ được Thiên đàng mãi mãi”.
Thần học Thánh Kinh của “niềm hy vọng được chúc phúc” diễn tả “Thiên đàng” này đã được Chúa Giê-su hứa với tên trộm ăn năn hối cải (Lc 23,43), âm vang trong toàn bộ Tân Ước và được nói nhiều đến trong các lá thư của Mẹ. Thực sự ta không thể trích dẫn hết được những gợi nhắc của Mẹ về Thiên đàng!
Hiệp nhất trong trái tim của Đức Ki-tô
Trong lá thư cuối cùng, Mẹ yêu thương con cái mình cách mãnh liệt và trìu mến, Mẹ muốn để con cái mình lại trong trái tim Chúa Giê-su (x. T 68,5).
Mẹ mời các chị em đi vào trong Trái tim của Chúa Giê-su, và đã hẹn gặp họ (x. T.17,2) trong đó: “ngai tòa say mê của một tình yêu không hão huyền”.44
Chúng ta ghi nhận điều này là Mẹ không chỉ dậy họ hãy phó mặc cho trái tim Ngài những khổ đau của mình (x.T. 25,3), nhưng ở lại “trong Trái Tim đáng kính thờ đó”. Nên hiệp nhất với Ngài và với các chị em (T. 27,6), là dấu chỉ của một đời sống được thống nhất trong Đức Ki-tô Giê-su, nơi “bén rễ và chôn sâu trong đức ái để hiểu được thế nào là chiều rộng, chiều dài, độ sâu” (Ep 3,7-18) của tình yêu Ngài, được trở thành một với Chúa Cha, trong Chúa Thánh Linh, trong sự xoay chuyển diệu vời của đời sống Ba Ngôi.
Chú thích
43 FMA, cử nhân Văn Chương, người thành lập và sinh động Nhà cầu nguyện “San Biagio del Sacro Speco” di Subiaco (Roma).
44 UNGARETTI Giuseppe, Mio fiume anche tu, in Vita d’uomo, Milano, Mondadori 1978, 175.