CHƯƠNG 6: NHIỆM VỤ THỨ HAI CỦA SINH ĐỘNG VIÊN TRUNG GIAN GIỮA NHÓM VÀ MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC, VĂN HÓA, GIÁO HỘI

1.   NHÓM - MÔI TRƯỜNG: MỐI TƯƠNG QUAN CẦN KÍCH HOẠT

Dần dần, khi nhóm đã được củng cố nội bộ, một nhiệm vụ thứ hai bắt đầu xuất hiện: tác động tích cực lên môi trường, nhằm trao đổi với môi trường những đề nghị, những trực giác và những chờ mong của nhóm.

Nhiệm vụ này – vốn mang tính quyết định trong mọi kinh nghiệm giáo dục – lại càng có tầm quan trọng nền tảng trong sinh động theo phong cách Salêdiêng. Đây chính là phương pháp sư phạm môi trường, với mục tiêu tạo điều kiện để người trẻ trở thành “Kitô hữu tốt và công dân lương thiện”, nghĩa là chuẩn bị cho họ biết tham gia cách tích cực vào đời sống xã hội và Hội Thánh.

Thực tế, sư phạm Salêdiêng kiến tạo những môi trường nơi người trẻ vừa cảm thấy “như ở nhà mình”, vừa được đón nhận các đề nghị giáo dục giúp họ thực hiện và dấn thân vào những chọn lựa quan trọng của đời mình. Vì thế, chỉ tập trung tiêu hao năng lực vào nội bộ nhóm hoặc chỉ khai thác những gì đã sẵn có trong mỗi thành viên vẫn chưa đủ để được coi là một hành trình giáo dục trọn vẹn.

Để hiểu khái niệm môi trường, cần đặt nó gần với các thuật ngữ như cộng thể giáo dục, cộng đoàn Hội Thánh, hay rộng hơn là cộng đồng nhân loại. Điểm chung nổi bật trong các thuật ngữ này chính là sự gặp gỡ giữa con người với con người. Môi trường và cộng thể lại có thể gắn kết với những khái niệm như cơ chếlãnh thổ, vốn nhấn mạnh đến yếu tố cơ cấu, tổ chức và tính xã hội. Môi trường là hiện thân của một lãnh thổ, cũng như cộng thể là hiện thân của một cơ chế giáo dục hoặc mục vụ.

Sinh động thật sự diễn ra khi người trẻ – đang sống trong một lãnh thổ và tham gia vào một cơ chế giáo dục – biết hội nhập sâu vào đó, tiếp nhận những đề nghị giáo dục và biến chúng thành của mình, thành lối sống của chính họ. Sinh động một nhóm nghĩa là giúp người trẻ biết đưa ra những quyết định cá nhân cả với tư cách là con người, lẫn với tư cách là Kitô hữu, trong môi trường và trong cộng thể.

Việc sinh động đạt hiệu quả khi người trẻ được hỗ trợ để hội nhập cách tích cực và có phân định vào lãnh thổ và các cơ chế giáo dục – mục vụ, thông qua cộng thể, môi trường, các tương quan cá nhân, và qua sự trao đổi những đề nghị, trực giác và chờ mong. Môi trường hay cộng thể không chỉ là nơi “trao ban” hay “chuyển giao” cho thế hệ mới, nhưng còn cần biết đón nhận và trân trọng những trực giác văn hóa và tôn giáo mà người trẻ mang lại.

Tuy nhiên, sinh động viên khi muốn thúc đẩy tiến trình trao đổi giữa nhóm và môi trường lại đang đối diện một thực tế phức tạp: nhiều nhóm hiện nay bị tách rời khỏi môi trường sống của mình. Một số môi trường vốn đảm trách việc xã hội hóa ban đầu cho trẻ em, thiếu nhi và giới trẻ (như gia đình, nhà trường) đã không hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vì thế, truyền thông trở nên khó khăn, và thông điệp không được hiểu cách đúng đắn. Người lớn và các nhà giáo dục có thể đang sử dụng một “ngôn ngữ” mà người trẻ không hiểu, không phải vì họ chống đối, mà vì thực sự không nắm bắt được ý nghĩa.

Để vượt qua khủng hoảng này, không phải cứ gia tăng số lượng hoạt động nhóm xã hội hay dồn dập gửi đến người trẻ các thông điệp là đủ. Nếu các kinh nghiệm tham gia và các sứ điệp đó không hòa hợp với nhau, người trẻ sẽ không thể tự sắp xếp và cá nhân hóa tất cả những gì mình nghe và học được.

Ngày càng rõ, nhiều bạn trẻ và nhóm trẻ tỏ ra thờ ơ hoặc từ chối những gì thuộc về cơ chế, cũng như các nỗ lực được vận hành qua quy tắc và luật lệ. Họ khó chấp nhận những giới hạn nhằm đạt đến một thiện ích ở tầm cao hơn. Người trẻ hôm nay chọn thuộc về các cơ chế như gia đình, trường học hay giáo xứ theo ý riêng; họ lui tới đó và công nhận giá trị của chúng, nhưng lại né tránh đối diện với những vấn đề nền tảng của đời sống, thường xử lý chúng một cách cá nhân, tách biệt.

Sinh động viên cũng ý thức rằng nhiều cơ chế giáo dục – mục vụ chưa được chuẩn bị để đáp ứng thực trạng này. Các cơ chế ấy chưa thật sự nhận ra tình trạng “mất rễ” văn hóa của người trẻ, và vẫn tiếp tục lặp lại những sứ điệp cũ, thậm chí với hình thức diễn đạt không còn phù hợp. Việc đào luyện ở đó thường thiên về trao truyền những nội dung có sẵn, thay vì tạo điều kiện cho người trẻ đối diện và đối thoại với các giá trị truyền thống, đồng thời gắn kết với trực giác và chờ mong cá nhân của họ, để cả hai bên cùng được làm giàu. Vì thế, các cơ chế này gặp khó khăn trong việc giúp người trẻ tái khẳng định những nội dung không thể thiếu của kinh nghiệm văn hóa và tôn giáo của nhân loại.

Tất cả những phân tích trên cho thấy: nhiệm vụ thứ hai của sinh động viên – giúp nhóm trao đổi các đề nghị với môi trường – là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi những can thiệp đa chiều. Những can thiệp này cần khởi đi từ các môi trường trung gian thiết yếu: gia đình, cơ sở giáo dục, cộng đoàn Kitô hữu, lãnh thổ và môi trường văn hóa rộng hơn.

Một số hướng gợi ý:

  •   Giúp nhóm mở rộng tầm nhìn và tương tác với môi trường văn hóa và tôn giáo.
  •  Tác động tích cực lên môi trường để các đề nghị được thực hiện theo phong cách sinh động.
  •  Tạo điều kiện để nhóm tham gia vào đời sống của môi trường giáo dục.
  •  Khuyến khích nhóm tương tác với các nhóm khác trong Phong trào Trẻ Salêdiêng.

2.   GIÚP CHO NHÓM TRỞ THÀNH “RỘNG MỞ” CHO MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO

Khi nhóm đã được thiết lập để sống với nhau và cùng chia sẻ một mối quan tâm trọng yếu, vẫn tồn tại nguy cơ nhóm tự đóng kín một cách có ý thức, hoặc làm ngơ trước những thông tin giá trị nhất đến từ bối cảnh chung.

Thực tế, nhóm mang lại cho các thành viên sự bảo vệ tối thiểu trước cảnh cô đơn, đồng thời tạo ra một không gian đáp ứng nhu cầu nhân vị hóa. Trong vai trò này, nhóm trở thành “môi trường của tình bạn”, đôi khi đối lập với môi trường bên ngoài và với các cơ chế xã hội – giáo hội, vốn bị coi là xa lạ hoặc thậm chí thù địch với con người.

Để phòng ngừa nguy cơ khép kín hoặc ứng phó trước những dấu hiệu đầu tiên của tình trạng này, nhóm cần được dẫn dắt để:

  •  Nhận thức các triệu chứng tiêu cực khi thiếu tương giao với môi trường: lãnh đạm trước những vấn đề lớn của bối cảnh, không sẵn sàng tiếp nhận hay chia sẻ.
  •  Ý thức rằng sự khép kín dẫn đến nghẹt thở, thiếu ý tưởng và động lực; đồng thời nuôi dưỡng quyết tâm “sống thoáng đạt và rộng mở”, “ra ngoài trời” để tham gia các cuộc hội thảo, trao đổi nội dung, hoặc thực hiện hoạt động – những yếu tố thiết yếu để được tự do và sẵn sàng đối thoại.
  •  Phát triển các cuộc gặp gỡ phong phú và đa dạng với môi trường văn hóa và Giáo Hội: tham dự vào các cộng đoàn, các thời khắc lễ hội, và cả những thời điểm căng thẳng của cộng đoàn.
  •  Thiết lập mối liên hệ với những con người có ý nghĩa đặc biệt – nhờ vai trò, vị trí, hoặc chứng tá đời sống – để nhóm nhận thức sâu hơn về sự phong phú của cộng thể, vì họ đóng vai trò trung gian giữa cộng thể và nhóm.

Kiểm định các sứ điệp

Khi ý thức rằng sự sống còn của mình phụ thuộc vào việc tiếp nhận liên tục các thông tin và năng lượng từ môi trường, nhóm sẽ học biết cách kiểm định những sứ điệp và đề nghị của môi trường qua quá trình sàng lọc chung:

  •  Thái độ phê phán: không tiếp nhận bất cứ sứ điệp nào chỉ vì nó hấp dẫn hoặc được trình bày khéo léo; cần giải mã và thẩm định để phân biệt giữa các đề nghị phổ biến và các đề nghị rõ ràng, chính xác, tránh tình trạng tiếp nhận – đáp ứng một cách vô thức.
  •  Tính ý nghĩa: giữa nhiều sứ điệp đích thực, nhóm cần chọn những sứ điệp giúp phát triển nhân vị; điều này đòi hỏi loại bỏ định kiến và sẵn sàng đón nhận các đề nghị dù chúng có thể buộc cá nhân hoặc nhóm phải tái cấu trúc đời sống hay xem xét lại các điểm quy chiếu đã đạt được.
  •  Trách nhiệm: ưu tiên tiếp nhận những sứ điệp khơi dậy dấn thân, thôi thúc can đảm đối diện với cuộc sống và chiến đấu để đạt tới các thiện ích của đời sống và văn hóa; đồng thời loại bỏ các sứ điệp khiến con người thụ động, khoanh tay, hoặc bi quan trước hiện thực.

Phác họa các đề nghị

Nhóm không chỉ thực hiện việc lựa chọn qua sàng lọc, mà còn cần chủ động mang đến môi trường những câu hỏi, đóng góp và sáng kiến. Sinh động viên có nhiệm vụ khơi gợi và dẫn dắt để nhóm:

  •  Biện phân giữa những câu hỏi phát sinh từ bối cảnh và những câu hỏi bắt nguồn từ chính kinh nghiệm sống, đồng thời xác định rõ bản chất của những câu hỏi thuộc loại thứ hai.
  •  Xác định một số giá trị nền tảng để tái cấu trúc và phát triển các sứ điệp tích cực của môi trường. Những giá trị này tạo nên bản sắc của nhóm, có thể là: tình yêu sự sống, niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, tinh thần phục vụ tha nhân – phù hợp với định hướng sinh động.
  •  Tiếp thu những trực giác ban đầu hoặc ưu tiên xuất phát từ nhóm mình hoặc từ các nhóm khác, như một lời đáp hoặc đóng góp độc đáo cho những vấn đề của bối cảnh.
  •  Diễn đạt lại bằng ngôn ngữ và cử chỉ riêng các sứ điệp đã tiếp nhận và nội tâm hóa, vì một nội dung chỉ thực sự được đón nhận khi có thể diễn tả lại bằng lời của chính mình, dù giản dị đến đâu.
  •  Xây dựng một “bảng ghi nhớ” trong đó các nội dung và đề nghị được liên kết chặt chẽ, nhằm tránh nguy cơ “nghe nhưng không đối chiếu”, hoặc chỉ tích lũy thông tin mà không hình thành được một khung khái niệm có cấu trúc để định hướng.

3.   MỘT MÔI TRƯỜNG THEO PHONG THÁI SINH ĐỘNG

Nhiệm vụ của sinh động viên không giới hạn trong phạm vi nhóm, nhưng còn mở rộng ra môi trường chung quanh. Họ tìm cách thi thố ảnh hưởng tích cực trên bối cảnh sống, đồng thời sẵn sàng hỗ trợ bất kỳ ai — đặc biệt là các bạn trẻ và các nhóm — bằng những đề nghị mang tính đào luyện. Khi đồng hành, sinh động viên mời gọi người trẻ, cũng như chính mình, sống và hành động theo logic của việc sinh động. Từ đó, họ đảm nhận và lưu hành giữa các nhà giáo dục một số lưu ý liên quan đến cách thức đề ra các đề nghị.

  •  Chứng tá sống động: Sinh động viên bảo đảm rằng các đề nghị và sứ điệp không chỉ dừng ở lời nói, nhưng được nâng đỡ bằng chứng tá đời sống và đức tin, thể hiện qua các cử chỉ và mối quan tâm hằng ngày. Mỗi chọn lựa và hành vi đức tin chỉ thực sự trở thành sự thông truyền mới mẻ cho người trẻ khi họ được gặp gỡ một chứng tá đầy xác tín.
  •  Chọn lọc nội dung phù hợp: Các đề nghị cần được chọn lọc có ý nghĩa về mặt văn hóa và tôn giáo, sao cho đáp ứng cách tốt nhất các mong đợi và vấn đề của người trẻ. Không phải mọi nội dung đều được truyền đạt cùng lúc hoặc với mức độ quan tâm như nhau. Mỗi thời đại, mỗi thế hệ sẽ nhận ra một số nội dung đặc biệt soi sáng và mở đường tiệm tiến đến chân lý toàn vẹn. Tuy nhiên, việc ưu tiên chọn lựa không phải là quyết định cá nhân của sinh động viên, mà là kết quả của tiến trình biện phân chung của cộng thể, vốn được thúc đẩy bởi câu hỏi: Đâu là những đề nghị có khả năng gieo vào đời sống người trẻ hạt giống chân lý và hy vọng, đồng thời mở lòng họ ra với gia sản văn hóa của nhân loại?
  •  Chuẩn bị “mảnh đất” để gieo hạt: Một đề nghị hữu hiệu phải được gieo vào mảnh đất đã được chuẩn bị. Dù bối cảnh khởi đầu ra sao, cũng cần được “cày xới” qua việc khơi gợi và xác định các vấn đề văn hóa hay tôn giáo, trước khi trao những câu trả lời hoàn chỉnh. Việc loan báo Tin Mừng, tuy thế, vẫn vượt lên trên mọi mong chờ hay câu hỏi của người trẻ, vì là sáng kiến của ân sủng.
  •  Phương pháp hội nhập: Các đề nghị nên được trình bày theo phương pháp tìm tòi, hội nhập vào kinh nghiệm sống, thay vì chỉ như một hệ thống tư tưởng hay một khung quan niệm trừu tượng. Từ hành trình kiếm tìm và kinh nghiệm được soi sáng, sẽ nảy sinh những nội dung văn hóa và đức tin có khả năng đối diện thực tại, giúp người trẻ xây dựng một hệ giá trị vững chắc.

Ngoài ra, sinh động viên còn cộng tác để mở rộng các môi trường cộng đồng, định hướng chúng theo những trục lớn của các đề nghị giáo dục dành cho giới trẻ. Các trục lớn này không phải là những chọn lựa tùy tiện của vài cá nhân, nhưng là những đòi hỏi bắt nguồn từ cấu trúc sâu xa của sứ điệp và từ bối cảnh văn hóa hiện thời. Trong khuôn khổ này, nội dung cụ thể của các đề nghị sẽ được triển khai chi tiết ở chương bảy.

4.   SỰ THAM GIA CỦA CÁC BẠN TRẺ TRONG LÃNH VỰC GIÁO DỤC

Khoa sư phạm Salêdiêng quan tâm đến việc nghiên cứu sự trao đổi các giá trị, những kỳ vọng và lối sống giữa cá nhân, nhóm và cộng thể, qua đó cổ võ sự hòa nhập của người trẻ vào môi trường giáo dục – nơi diễn ra những cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa. Để đạt mục tiêu này, khoa sư phạm chọn một phương thế độc đáo: khơi dậy nơi người trẻ khả năng tham dự cách sáng tạo vào đời sống cộng thể.

Ý thức được điều đó, sinh động viên cùng với nhóm chủ động tác động lên môi trường, tạo điều kiện thuận lợi để việc tham dự được thực hiện cách sâu sắc. Đồng thời, họ hướng dẫn nhóm mạnh dạn mở rộng mối tương quan với môi trường giáo dục, được hiểu vừa như một cộng đoàn những con người, vừa như một tổ chức với các vai trò và hoạt động cụ thể.

Nhóm trong đời sống của cộng thể giáo dục

Một môi trường thực sự mang phong thái sinh động không chỉ dừng ở việc có cơ cấu, chương trình, vai trò hay luật lệ. Điều cốt yếu là phải hình thành một cộng thể giáo dục – mục vụ, trong đó những con người cùng hiện diện, cùng chia sẻ và cùng tác động lẫn nhau, để chuyển thông các giá trị giáo dục và đức tin.

Những biểu hiện của sự tham gia tích cực vào đời sống cộng thể bao gồm:

  •  Soạn thảo kế hoạch giáo dục – mục vụ.
  •  Tham dự chủ động vào các thời điểm đưa ra quyết định.
  •  Cống hiến sức sống cho các hoạt động, trong sự hòa hợp với môi trường.

Sinh động viên thúc đẩy cộng thể tạo không gian và phương thức thích hợp để các bạn trẻ, với tư cách là nhóm, tham gia vào việc lập kế hoạch chung. Việc lập kế hoạch này không chỉ là một hoạt động kỹ thuật, nhưng là thời điểm quan trọng để cộng thể, các nhóm và từng cá nhân trưởng thành, khi được đối chiếu với các nhà giáo dục, các nhóm khác, cũng như các tác nhân văn hóa và tôn giáo xung quanh.

Sinh động viên khuyến khích nhóm:

  •  Đóng góp tích cực vào kế hoạch chung của cộng thể.
  •  Xem kế hoạch chung như điểm quy chiếu để hoạch định chương trình riêng và hành trình đào luyện của nhóm, trong sự đồng hành với hành trình chung.
  •  Tương đối hóa các hoạt động riêng, nhận thức rằng chúng chỉ mang tính bổ sung cho các sáng kiến khác, cùng góp phần xây dựng môi trường.

Họ giúp cộng thể hiểu rằng tham dự không chỉ là thực hiện các hoạt động đã được quyết định, nhưng còn là cùng nhau hình thành các quyết định đó, nhất là xác định mục tiêu và định hướng của các sáng kiến.

Sự tham dự không thể chỉ mang tính ngẫu hứng hay dựa trên sự tín nhiệm cá nhân; nó phải là một chọn lựa mang tính nguyên tắc, nhằm tạo điều kiện cho người trẻ và các nhóm có được những trải nghiệm thực tiễn, giúp họ ý thức trách nhiệm và góp phần vào việc kiến tạo môi trường sống chung, dù trong phạm vi nhỏ như trường học, nguyện xá hay giáo xứ.

Sinh động viên cần tránh để nhóm cảm thấy mình là “khách” hoặc bị đẩy ra bên lề cộng thể, trở thành những “hòn đảo” tách biệt. Ngược lại, họ giúp nhóm đón nhận những thái độ và hình thức tham dự tích cực, gieo niềm tin và hứng khởi cho việc dấn thân.

Điều này đòi hỏi khả năng giải quyết các khác biệt và bất đồng một cách xây dựng. Dù môi trường giáo dục có những giới hạn về cơ cấu, thói quen hay mục tiêu riêng, sinh động viên vẫn giúp nhóm nhận ra và phát huy những tiềm năng tích cực, đồng thời khuyến khích họ đề xuất sáng kiến, thực hiện phân tích tổng thể, lượng định với tinh thần bình tĩnh và thực tế.

Nhóm cần trở thành nơi:

  •  Vang vọng và triển khai những giá trị môi trường đang trao tặng.
  •  Bổ sung và làm phong phú những điều môi trường mới chỉ khơi gợi.
  •  Trung hòa các giới hạn của môi trường bằng những sáng kiến tích cực.

Tiến trình giáo dục luôn cần những đổi mới và sự phong phú liên tục. Các mối tương quan được mở rộng, phương pháp làm việc trở nên hiệu quả hơn, khả năng phê phán và tổng hợp được nâng cao. Việc sinh động hóa phải biết tận dụng những đợt phong phú này để nâng cao chất lượng đời sống nhóm và cổ võ sự kết hợp giữa văn hóa và đời sống.

Theo truyền thống Salêdiêng, sinh động hóa diễn ra ngang qua kinh nghiệm. Những kinh nghiệm này, nếu được sống trong ý nghĩa giáo dục, sẽ bộc lộ các giá trị nhân bản và đức tin cốt lõi của linh đạo Salêdiêng.

Tiêu chuẩn chọn lựa kinh nghiệm:

  •  Mang định hướng tích cực, giúp người trẻ tiếp cận điều thiện, điều đẹp và sự thật.
  •  Có khả năng thích nghi, được liên tục xem xét và làm mới.
  •  Bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm, khuyến khích sáng tạo và tham gia.
  •  Thúc đẩy sự thay đổi, giúp người trẻ tiến xa hơn trên hành trình đã chọn.

Các kinh nghiệm – đề xuất có thể qui về một số mối gút có liên kết chặt chẽ giữa chúng với nhau. Rất có thể là một kinh nghiệm kín múc ở hai hay nhiều gút kinh nghiệm mà chúng ta nêu ra đây:

                 Sống hằng ngày với nhau: Nhà giáo dục hiện diện giữa người trẻ không chỉ trong lúc làm việc hay hội họp, nhưng cả nơi sân chơi và các không gian đời thường.

                 Kinh nghiệm làm việc: Gắn liền với linh đạo Salêdiêng, giúp hình thành tinh thần trách nhiệm và khả năng kiên trì.

                 Trò chơi và lễ hội: Giữ cân bằng giữa làm việc và niềm vui chung, như một hồng ân của sự phục sinh.

                 Cầu nguyện và cử hành bí tích: Nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng qua Thánh Thể, Hòa Giải và các thực hành đạo đức đơn sơ nhưng sâu sắc.

                 Cùng làm với nhau: Mọi hoạt động được thực hiện trong tinh thần cộng tác, giúp từng người trưởng thành nhờ sự nâng đỡ và phản hồi của người khác.

5.   SỰ TƯƠNG TÁC VÀ SỰ ĐỒNG QUI GIỮA CÁC NHÓM

Các nhóm hoạt động trong lãnh vực tương tự được hình thành từ tổng thể các đoàn hội, trong đó người trẻ và người lớn cùng chia sẻ một kinh nghiệm chung. Hiện nay, đời sống các đoàn nhóm đang ở giai đoạn sôi động, với nhiều hình thức phong phú và đa diện. Tuy nhiên, đôi khi cũng xảy ra tình trạng chia nhỏ hoặc tách rời. Những nhóm có cùng định hướng hoặc tìm thấy điểm chung sẽ nhận ra giá trị của sự liên kết, đồng thời cảm nghiệm sức mạnh lớn hơn khi cùng nhau đảm nhận các trách nhiệm chung.

Nhiệm vụ của sinh động viên mang tính đa diện, vừa hướng đến nhóm mà mình trực tiếp đồng hành, vừa hướng đến toàn thể các nhóm thuộc phong trào giới trẻ Salêdiêng. Nhìn chung, họ duy trì sự sinh động dựa trên những yếu tố nền tảng tạo nên sự gắn kết, đồng thời quy chiếu vào một định hướng chung. Sự rộng mở đối với mọi thực tại của các đoàn nhóm không chỉ là một giải pháp tình thế hay chiến thuật, nhưng là đặc tính nội tại của chính nhóm.

Khai thác cách tích cực những giá trị đang hiện hữu nơi các nhóm khác nhau và trong các trách nhiệm mà người trẻ dấn thân, sinh động viên cần khơi gợi khát vọng làm phong phú cho nhau; tập cho mình khả năng để được chất vấn bởi người khác, sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm, và mở rộng mối quan tâm qua những lần gặp gỡ. Khi biết nhìn nhận sự bổ sung lẫn nhau giữa các kinh nghiệm trong bối cảnh hiệp thông của Hội Thánh, sinh động viên sẽ giúp nhóm loại trừ những căng thẳng phát sinh từ ganh đua hay từ khát vọng muốn chiếm ưu thế.

Họ đặc biệt cổ võ những sáng kiến và hoạt động chung trên cả phương diện suy tư lẫn hành động. Việc đào luyện nhóm và các thành viên cần diễn ra trong tinh thần giao lưu và đối chiếu cởi mở; việc khép kín hay giới hạn sẽ không đem lại lợi ích cho sự tăng trưởng của cá nhân cũng như của tập thể. Những nhóm có chung linh đạo Salêdiêng sẽ trưởng thành và thể hiện rõ hành trình riêng của mình khi biết gặp gỡ, hiểu biết và đối chiếu lẫn nhau. Sự tương tác này có nền tảng lịch sử và được tổ chức theo những mục tiêu cụ thể: quy tụ những người có cùng mối quan tâm, cùng độ tuổi hoặc cùng hình thức dấn thân và trách nhiệm.

Do đó, sinh động viên cần:

  •  Tìm hiểu thực tại và bản chất của phong trào giới trẻ Salêdiêng, vốn là điểm quy chiếu chung cho hành trình trưởng thành đời sống Kitô hữu.
  •  Cổ võ việc tham dự của nhóm vào những thời điểm sinh hoạt chung, cả ở cấp độ cá nhân sinh động viên lẫn toàn nhóm, với sự hiện diện và đóng góp tích cực; đồng thời chăm lo đào luyện cho những bạn trẻ có ơn gọi trở thành sinh động viên, gắn bó với phong trào giới trẻ Salêdiêng theo đặc tính riêng của phong trào.
  •  Duy trì sự kết nối và thông tin với các trung tâm mục vụ đang đồng hành, gợi ý và cung cấp tài liệu nhằm hỗ trợ công tác giáo dục trong nhóm.

Nhiệm vụ trung gian giữa nhóm, cộng thể giáo dục, môi trường xã hội – văn hóa và Hội Thánh đòi hỏi sinh động viên phải biết thống nhất và hòa nhập trong chính mình những tác động đến từ nhiều bối cảnh khác nhau. Họ được mời gọi trở thành người mang vác và kết hợp các yếu tố đa dạng ấy, không ngại khó nhọc để tạo nên những tổng hợp mới. Giữ cho nhóm rộng mở và duy trì cuộc đối thoại liên tục với môi trường nghĩa là không để mình bị giới hạn trong những chân trời hẹp. Với khả năng nhìn xa và rộng, sinh động viên sẽ giúp nhóm vượt ra khỏi vùng an toàn nhỏ hẹp để đón nhận những đối thoại và thách đố vốn không bao giờ thiếu.

CHƯƠNG 5: NHIỆM VỤ THỨ NHẤT CỦA SINH ĐỘNG VIÊN GIÚP NGƯỜI TRẺ TRỞ THÀNH NHÓMCHƯƠNG 7: NHIỆM VỤ THỨ BA CỦA SINH ĐỘNG VIÊN GIÚP NHÓM LÊN KẾ HOẠCH CHO LỐI SỐNG MỚI