CHƯƠNG 4: TIẾN TRÌNH SINH ĐỘNG TRONG CÁC NHÓM TRẺ

Mỗi nhóm trẻ có một chu kỳ đời sống với những giai đoạn riêng, từ lúc hình thành cho đến khi kết thúc. Chu kỳ này tồn tại trước và độc lập với mọi định hướng giáo dục – mục vụ; nó có thể bị sao nhãng hoặc gắn kết với những mục tiêu thuộc loại khác. Dù trong trường hợp nào, ngay trong chính tiến trình tự nhiên ấy vẫn ẩn chứa những mầm sống phong phú.

Đặc trưng của công tác sinh động nhóm là đưa các mục tiêu tăng trưởng văn hóa và đức tin vào trong diễn tiến tự nhiên của nhóm, để tạo nên một hành trình duy nhất, được các thành viên ý thức và nhìn nhận cách phê phán.

Các giai đoạn lớn của hành trình nhóm có thể tóm lược như sau:

1.                 Quy tụ và tiếp nhận.

2.                 Xây dựng tinh thần thuộc về nhóm và tình liên đới.

3.                 Đối chất đầu tiên và tình yêu dành cho cuộc sống.

4.                 Xây dựng kế hoạch nhóm và chọn lựa đức tin.

5.                 Chín muồi sức sống và học tập sống đời Kitô hữu.

6.                 Hội nhập cộng đồng và phân định ơn gọi cá nhân.

Hành trình này vừa mang tính tiên thiên của sự trưởng thành con người, vừa mở ra đề xuất Kitô giáo. Cần lưu ý rằng các giai đoạn này không nối tiếp theo nghĩa tuyệt đối; trong từng giai đoạn, những yếu tố của các giai đoạn khác vẫn có thể đan xen và được nhấn mạnh ở những mức độ khác nhau.

Tổng thể hành trình giống như sự nảy mầm và lớn lên của một hạt giống, được triển khai qua hai tiến trình song song:

  • Tiến trình giáo dục nhân bản: giúp người trẻ trưởng thành về nhân cách, biết đảm nhận cuộc sống cách có trách nhiệm, hiểu được ý nghĩa của đời mình – cả ý nghĩa tôn giáo – và biết đối diện với những câu hỏi lớn của hiện hữu.
  • Tiến trình loan báo Tin Mừng: được thực hiện cách minh nhiên và đồng thời với giáo dục nhân bản. Ngay trong chính việc giáo dục này, chứng tá của cộng thể và của sinh động viên đã là một lời đề nghị đức tin, thông qua sự đón nhận và tin tưởng lẫn nhau, nhằm phục vụ cho sự tăng trưởng. Từ những giai đoạn đầu, việc loan báo minh nhiên vẫn hiện diện, được trao ban tùy theo mức độ mà nhóm có thể tiếp nhận, để dần dần dẫn tới việc hiểu biết đề nghị Kitô giáo và chọn lựa dấn thân theo Chúa Kitô và Nước của Ngài.

Việc trình bày các giai đoạn dưới dạng lược đồ có giá trị như một điểm tham chiếu. Cần ghi nhớ rằng:

  • Không phải mọi thành viên của nhóm đều trải qua các giai đoạn giống hệt nhau.
  • Không phải mọi nhóm đều tiến triển theo một trình tự duy nhất như mô hình nêu ở đây hoặc trong các tài liệu khác.

Điều cốt yếu là sinh động viên phải có cái nhìn tổng quát về tiến trình, biết nhận định các dấu hiệu, và đồng hành để nhóm đạt được những mục tiêu giáo dục – mục vụ. Vì thế, việc mô tả từng giai đoạn sẽ tập trung vào:

  • Đặc điểm và thách đố của giai đoạn.
  • Mục tiêu chuyên biệt cần đạt tới.
  • Hướng can thiệp thích hợp.
  • Thái độ cần có của sinh động viên trong tiến trình đồng hành.

1.     QUY TỤ VÀ TIẾP NHẬN

Đặc điểm và vấn đề

  • Khởi đầu hành trình nhóm: sự hiện diện và đồng hành của sinh động viên

Hành trình của nhóm thường khởi sự từ sự hiện diện sống động của sinh động viên giữa đời sống hằng ngày của các bạn trẻ, và từ niềm say mê đọc các thực tại của giới trẻ với tinh thần phê phán. Điều này có thể diễn ra trong một môi trường giáo dục (trường học, nguyện xá), trong một phong trào, trong một cộng đồng Hội Thánh, hay trong một lãnh thổ cụ thể.

Không nhất thiết phải chờ có những yêu cầu minh nhiên từ phía người trẻ, sinh động viên luôn chủ động đưa ra đề nghị, đáp ứng các nhu cầu, và giúp cho những hạt giống thiện chí nơi họ được nảy nở.

Bối cảnh khởi đầu này nhiều khi mang dấu ấn của sự hờ hững: nhiều bạn trẻ không mấy khao khát lập nhóm, giữ khoảng cách với môi trường và các nhà giáo dục, và thường ở trong tư thế thụ động trước những giá trị mà cộng thể muốn truyền đạt.

Một trong những biểu hiện đáng lưu tâm là sự hờ hững đối với đức tin: nơi đa số bạn trẻ, khó có thể giả thiết rằng đã tồn tại một câu hỏi tôn giáo minh nhiên, càng hiếm hơn nữa là một đức tin chín chắn. Thông thường, chỉ có một câu hỏi tôn giáo mờ nhạt, đôi khi nghịch lý hoặc lẫn lộn, nhưng nó vẫn hiện diện – ngay cả nơi những người có vẻ từ chối đức tin về nguyên tắc.

Ngoài ra, nhiều bạn trẻ gặp khó khăn ban đầu trong việc tác động lẫn nhau, xây dựng tình bạn và tình liên đới, vượt qua những kiểu gặp gỡ thoáng qua chỉ mang tính giải trí. Họ lớn lên trong một bối cảnh xã hội đề cao thái quá quyền lợi cá nhân, đến mức không còn khoảng không gian đích thực để học cách chung sống.

Cũng có trường hợp sự chống đối nảy sinh từ những thất bại nhóm trước đó: kinh nghiệm không thành công, nhận thức (dù mơ hồ) về ý hướng hoặc sứ điệp của sinh động viên, hay cảm giác xa lạ với người đồng hành khiến việc thiết lập quan hệ trở nên khó khăn.

Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng vẫn có những thực tại gắn kết nhóm – những dấu chỉ của một khát vọng tìm kiếm lối sống chung, thể hiện trực giác cá nhân, và tham gia vào đời sống cộng thể giáo dục, Hội Thánh, cũng như xã hội.

Các mục tiêu ban đầu

Công việc của sinh động viên ở giai đoạn khởi đầu hướng tới một số mục tiêu, nếu đạt được sẽ tạo nên sự quy tụ ban đầu:

  • Tạo bầu khí tín nhiệm lẫn nhau, khơi dậy nơi các bạn trẻ sự cởi mở để bắt đầu đối thoại, gặp gỡ và cảm thấy nhu cầu được tụ họp.
  • Phát hiện các mầm sống – dù còn nghèo nàn – của khát vọng gắn kết nhóm, qua việc khơi lên niềm hứng thú, óc tò mò, và các mối quan tâm chung.
  • Hình thành khát vọng lập nhóm như một không gian gặp gỡ bạn bè và thực hiện những sở thích, quan tâm cá nhân.

Các hướng can thiệp và hoạt động

Để đạt các mục tiêu trên, sinh động viên có thể triển khai những hoạt động và can thiệp theo bốn hướng chính:

  • Giúp bạn trẻ nhận ra tầm quan trọng của việc chăm sóc bản thân không chỉ trong một số khía cạnh quen thuộc, mà còn ở nhiều bình diện khác: thể chất, trí tuệ, nghệ thuật, tôn giáo. Khơi dậy nơi họ khả năng thực hiện điều gì đó độc đáo, để họ trở thành nhân vật chính của hoạt động, và khám phá môi trường giáo dục như một không gian tự do sáng tạo vượt ngoài giới hạn đã biết. Mục tiêu cuối cùng là đánh thức khát vọng trưởng thành nhân cách.
  • Phá vỡ cô lập và xây dựng niềm vui chung. Tạo cơ hội để các bạn trẻ trải nghiệm niềm vui của việc ở cùng nhau và cùng nhau kiến tạo: qua các ngày lễ, trò chơi, sáng kiến văn hóa mở rộng. Trong bối cảnh này, sinh động viên chủ động mời gọi lập nhóm, nhân lên những khoảnh khắc vui tươi và giúp các thành viên khám phá giá trị của hợp tác và tương tác.
  • Xác định và hội tụ mối quan tâm. Lắng nghe và trân trọng mọi mối quan tâm của từng cá nhân. Tận dụng những điểm chung về xã hội, văn hóa, tôn giáo để khởi động sự cộng tác và mở ra hành trình đào luyện nhân bản – đức tin.Từng bước chuyển từ các quan tâm trước mắt sang nhu cầu sâu xa hơn ở bình diện tình cảm và hiện sinh.
  • Đề nghị minh nhiên việc thành lập nhóm. Tổ chức những dịp gặp gỡ với các nhóm đã có để tạo động lực, với điều kiện đó phải là những kinh nghiệm ý nghĩa và khả thi. Mời gọi bạn trẻ chia sẻ những giờ phút hạnh phúc của nhóm và thăm dò khả năng tiếp tục tham gia. Giải thích cách tế nhị lý do và lợi ích, cho họ thấy đây là cơ hội đáp ứng mối quan tâm cá nhân và gắn kết với lời mời gọi của cộng thể giáo dục, cũng như nhu cầu phục vụ tại địa phương. Thông thường, quyết định tham gia nhóm đến sau những trải nghiệm vui tươi và thành công, dù đơn giản, do nhóm thực hiện.

2.     TINH THẦN THUỘC VỀ VÀ SỰ LIÊN ĐỚI

Đặc điểm và vấn đề

Sau khi đã quy tụ, bước tiếp theo là củng cố nhóm cho tới khi các thành viên đưa ra quyết định thuộc về nhóm – nghĩa là dấn thân vào một kinh nghiệm chung, với tất cả những đòi hỏi của nó.

Cảm thấy mình được tiếp nhận, các bạn trẻ bắt đầu chia sẻ một cách tự nhiên về những câu chuyện thường ngày, sống nhiệt thành trong các mối tương quan liên vị, kể cả khi có xung khắc. Họ cùng nhau thảo luận về điều mình mong muốn và cách thức để đạt được.

Nhóm dần được xem như một không gian quan trọng để phát huy lợi ích cá nhân và bày tỏ căn tính phức tạp của mỗi người. Các thành viên bắt đầu thực hiện việc phân tích vấn đề, tìm kiếm giải pháp, và cố gắng làm sáng tỏ những giá trị nền tảng mà nhóm dựa vào để đánh giá và lựa chọn.

Trong giai đoạn này, sự thuộc về nhóm trở thành một lựa chọn có suy nghĩ, được coi như một giá trị của bản thân. Càng tiến sâu hơn, mỗi người nhận ra rằng việc chọn tham gia nhóm có cái giá của nó – không chỉ ở thời gian phải dành, việc từ bỏ một số hoạt động hay tình bạn khác, mà còn ở việc để nhóm tác động đến lối suy nghĩ và hành động của mình.

Một số vấn đề đặc trưng

Khủng hoảng tình bạn và bầu khí ban đầu: Sự hứng khởi của những ngày đầu có thể giảm sút khi sự hiểu biết lẫn nhau trở nên thực tế hơn, kéo theo những vấn đề mới.

Thách đố của sự thông tri: Việc truyền đạt đòi hỏi mỗi người phải bộc lộ bản thân không sợ hãi và không phòng thủ; tuy nhiên, nỗi sợ và sự phòng thủ vẫn hiện diện, gây trở ngại cho mối quan hệ đang hình thành.

Hình thành cơ cấu nhóm: Khi quyết định thuộc về nhóm được chia sẻ cách ý thức, nhóm bắt đầu hình thành cơ cấu – ban đầu chưa chính thức, sau đó chính thức – kèm theo nhu cầu lập kế hoạch sinh hoạt. Một số người giữ vai trò trung tâm trong việc thông tin và ra quyết định.

Mệt mỏi trong đào sâu bản thân: Việc đi vào chiều sâu đời sống nội tâm đòi hỏi nhiều năng lượng, khiến người trẻ dễ mỏi mệt. Trong bối cảnh xã hội mang nặng tính thực tiễn, việc dành sức cho sáng tạo cá nhân và nhóm đôi khi bị coi là vô nghĩa.

Cân bằng giữa tự do cá nhân và đồng thuận nhóm: Trở thành nhóm đồng nghĩa với việc tìm kiếm các cách thức chung để suy nghĩ, đánh giá và hành động, mà vẫn bảo đảm sự tự lập của lương tâm. Điều này khiến mỗi người có thể phản ứng khác nhau – hoặc bảo vệ tự do cá nhân, hoặc “ẩn mình” trong danh nghĩa thuộc về nhóm nhưng với điều kiện riêng của mình.

Các mục tiêu

Mục tiêu tổng quát của sinh động viên là giúp nhóm:

  • Hiện hữu như một nhóm (esistere come gruppo) và giúp mỗi cá nhân thuộc về nhóm một cách ý thức và sáng tạo.
  • Chọn lựa giá trị lớn lao của tình liên đới – một giá trị phát sinh trong nhóm và lan tỏa ra bên ngoài.
  • Các mục tiêu cụ thể gồm:
  • Đạt được sự thông tri hiệu quả, thỏa mãn mọi thành viên và cho phép thực hiện mục tiêu chung với tinh thần chia sẻ trách nhiệm.
  • Tạo cơ hội cho nhóm làm việc cùng nhau (suy nghĩ, quyết định, hành động) với sự tham gia tích cực của tất cả mọi người.
  • Giúp nhóm nhận ra mình trong đời sống của cộng thể giáo dục, cũng như trong bối cảnh địa phương và Giáo Hội – xã hội.

Các hoạt động và can thiệp

Để đạt được các mục tiêu trên, sinh động viên có thể triển khai các hoạt động và can thiệp theo bốn hướng:

  • Cơ cấu hóa nhóm. Chuyển từ quy tụ tự phát sang quy tụ có suy nghĩ. Làm chín muồi sự tiếp nhận lẫn nhau, xác định rõ các giá trị nền tảng, mục tiêu, hoạt động, vai trò từng thành viên, nhiệm vụ của sinh động viên và tiến trình ra quyết định.
  • Giải phóng khả năng diễn tả. Giúp mỗi người làm chủ các loại ngôn ngữ – cả logic lý luận lẫn biểu tượng – để giao tiếp phong phú hơn, tiếp cận thực tại sâu sắc hơn. Khắc phục tình trạng ngôn ngữ nghèo nàn vốn làm hạn chế khả năng phân tích, tìm nguyên nhân, rút ý nghĩa và hình thành nhu cầu xuất phát từ kinh nghiệm sống.
  • Phát triển tư duy nội tâm và đối thoại. Giúp người trẻ khám phá bản thân như một cá thể độc đáo nhưng vẫn hiệp thông với người khác. Tạo điều kiện cho việc suy tư cá nhân và chia sẻ trực giác, ý tưởng; đánh giá các thông điệp từ bên ngoài và bên trong, từ đó hình thành một quan điểm riêng về cuộc sống.
  • Cổ vũ tinh thần thuộc về và liên đới. Làm cho nhu cầu thông tri giữa các thành viên, với sinh động viên và với cộng thể giáo dục trở nên minh nhiên. Củng cố sự đồng trách nhiệm, quyết tâm dấn thân và gắn bó với nhóm như một phần của cùng một cơ thể. Khuyến khích mỗi thành viên trở thành chủ thể trong các tiến trình đào luyện và tham gia vào đời sống của môi trường.

3.     VIỆC ĐỐI CHIẾU ĐẦU TIÊN VÀ TÌNH YÊU DÀNH CHO CUỘC SỐNG

Đặc điểm và vấn đề

Khi mức độ gắn kết ban đầu trong nhóm đã được củng cố, các thành viên bắt đầu cảm thấy đủ tự tin để đưa ra lập trường trước những hoàn cảnh mà nhóm đang dấn thân, cũng như trước những thách đố liên tục do cuộc sống đặt ra. Các vấn nạn xuất hiện từ bên trong nhóm, những cuộc gặp gỡ với các chứng nhân thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, và việc tiếp xúc với những sứ điệp hay đề nghị phổ biến trong môi trường sống sẽ thúc đẩy nhóm tìm kiếm những câu trả lời phù hợp. Chính trong bối cảnh này, nhóm bước vào giai đoạn khám phá và diễn tả ý nghĩa cũng như tình yêu dành cho cuộc sống.

Ý nghĩa của tình yêu dành cho cuộc sống. Tình yêu dành cho cuộc sống là một xác tín sâu xa rằng: cuộc đời là hồng ân. Trong hồng ân ấy ẩn chứa những ý nghĩa phong phú và những khả thể vượt quá dự đoán của con người, hướng tới hạnh phúc đích thực. Nhờ đó, con người sẵn sàng trả giá – bằng nỗ lực và cả gian khổ – để bảo vệ phẩm chất, danh dự và sự tăng trưởng của đời sống trong mọi hoàn cảnh.

Ở chiều sâu, tình yêu dành cho cuộc sống cũng chính là sự đón nhận khát vọng căn bản của nhân loại – khát vọng vốn là nền tảng của các mối phúc Tin Mừng. Điều này vẫn khả thi trong mọi điều kiện sống, kể cả trong nghèo khó. Thậm chí, chính khi ý thức về sự nghèo nàn và giới hạn của mình, con người mới có thể cảm nhận mạnh mẽ hơn khát vọng vươn tới một đời sống trọn vẹn, cho bản thân và cho thế giới xung quanh.

Việc cùng nhau diễn tả một tình yêu có ý thức đối với cuộc sống đòi hỏi phải vượt qua những vấn đề đặc thù của giai đoạn này. Quyết định cá nhân “sống cho cuộc sống” chỉ có thể hình thành sau khi: một mặt, người trẻ đã trải qua những vấn đề hiện sinh cụ thể; mặt khác, họ đã tiếp cận được hạt nhân cốt lõi của những câu trả lời mà nhân loại từng đưa ra trong lịch sử. Không thể có một quyết định đích thực cho cuộc sống nếu thiếu sự ý thức về thực tại bản thân và một tiếp cận với nền văn hóa nhân bản toàn diện. Điều này bao gồm cả việc xác định những câu hỏi sâu xa của chính mình và nhận diện những câu trả lời đang được lưu hành – một công việc vốn không dễ dàng đối với giới trẻ.

Trong giai đoạn này, nhóm được mời gọi xây dựng một kế hoạch chung. Đây là thử thách thực sự cho khả năng phân tích vấn đề, tìm kiếm giải pháp có ý nghĩa, và chia sẻ những kết luận đạt được. Kế hoạch đó cần được hình thành trong môi trường cho phép hội nhập giá trị giữa các thành viên, giữa nhóm và sinh động viên, cũng như giữa nhóm với cộng đoàn giáo dục rộng hơn. Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở việc xây dựng nội bộ là chưa đủ. Nhóm còn cần đối diện các quyết định khởi phát từ tình yêu dành cho cuộc sống với những lối sống đã được định hình trong bối cảnh xã hội – văn hóa. Nếu thiếu sự đối chất này, “tình yêu cuộc sống” sẽ dễ rơi vào sáo rỗng hoặc bị bóp méo ý nghĩa.

Một thách đố khác của giai đoạn này là biến chính cuộc sống thành nơi nhóm học hỏi và diễn tả khát vọng tôn giáo. Với nhiều người trẻ, đức tin không gắn kết với đời sống cá nhân, đơn giản vì họ chưa có những câu hỏi tôn giáo đủ sâu để cắm neo đức tin. Hoạt động giáo dục lúc này mang tính “đánh cuộc”: trong khi khám phá ý nghĩa của đời sống, nhóm có thể mở ra cho người trẻ bình diện tôn giáo, đến mức họ có thể kêu cầu ơn cứu độ từ Đấng Siêu Việt.

Mục tiêu của giai đoạn:

  • Đạt tới mức hiểu biết và ý thức về thân phận con người, với tất cả sự giới hạn và nghèo nàn của nó;
  • Cảm nghiệm cụ thể rằng mình có thể vượt qua khó khăn một cách danh dự, đồng thời khám phá điều kiện cá nhân và tập thể để làm được điều đó;
  • Thể hiện các kế hoạch hành động cụ thể, sáng tạo, tận dụng những gì kinh nghiệm nhân loại cống hiến (môi trường sống, suy tư nhóm, trực giác…).

Hoạt động và can thiệp đề nghị

  • Bén rễ vào môi trường xã hội – văn hóa và Hội Thánh. Giúp cá nhân và nhóm tiếp xúc, nội tâm hóa, và đánh giá phê phán những đề nghị từ môi trường sống. Người trẻ phải ý thức về cội rễ văn hóa, lý do hiện hữu của mình, và sáng tạo phong cách sống mới kế thừa quá khứ cách năng động. Xây dựng “bản ghi nhớ” chung ghi lại các chọn lựa, trực giác, và giá trị được nhóm đồng thuận.
  • Tiếp cận các hoàn cảnh gợi lên vấn đề ý nghĩa cuộc sống. Đưa nhóm đến với những tình huống mà nguyên tắc “cho để được cho lại” không còn giá trị: đau khổ, cô đơn, nghèo đói, áp bức. Mời gọi nhóm xác định căn tính và đưa ra câu trả lời vô vị lợi, cả cá nhân lẫn tập thể. Chỉ khi các hoàn cảnh này gắn kết tâm lý và xã hội với đời sống nhóm thì câu trả lời mới trở nên thực sự tập thể.
  • Kinh nghiệm lập kế hoạch chung. Khuyến khích mọi thành viên tham gia tích cực vào việc hoạch định và thực hiện kế hoạch.

Mỗi người được thúc đẩy để nhận ra cách thức Thiên Chúa và đức tin Kitô giáo đi vào quyết định sống của mình. Hướng đến một tổng hợp nội dung lấy cảm hứng từ tình yêu dành cho cuộc sống: tiêu chuẩn, chọn lựa, hoạt động được quyết định và thực hiện trong đồng trách nhiệm.

Học hỏi năng động lực và niềm vui của hành động. Cho nhóm cơ hội thực hiện sáng kiến riêng: thể thao, văn hóa, thiện nguyện. Việc triển khai thực tế mang giá trị đào luyện cao, khơi dậy nhiệt huyết mới. Niềm vui từ thành quả, dù nhỏ, củng cố hình ảnh bản thân và tinh thần thuộc về nhóm.

4.     KẾ HOẠCH NHÓM VÀ SỰ CHỌN LỰA ĐỨC TIN

Đặc điểm và vấn đề

Nếu nhóm đã thành công vượt qua các giai đoạn trước, các mối tương quan và ý thức thuộc về nhóm đã đạt đến độ chín mùi, nhờ đó sự hiệp thông được thực hiện mà không còn những căng thẳng không cần thiết. Nhóm không còn phải tiêu hao năng lượng vào những tranh luận vụn vặt, nhưng trái lại, có thể tập trung đưa các chọn lựa chung tới đích.

Trong bối cảnh này, tình yêu cho cuộc sống – được xem như một nơi chốn độc đáo để đặt ra chất vấn tôn giáo – phải trở thành lời loan báo tiên khởi của đức tin Kitô giáo. Mục tiêu của giai đoạn mới là làm sáng tỏ và đào sâu đời sống Kitô hữu, nơi đó nhóm nhận ra căn tính và sứ mạng của mình.

Sự chọn lựa đức tin làm phong phú thêm tình yêu cho cuộc sống bằng một ý thức mới, một ý nghĩa mới và những thái độ mới, mở ra trước mắt những chân trời vô hạn. Trong tổ chức nhóm, chọn lựa này được nhìn nhận như nơi Thần Khí của Đấng Phục Sinh được thông ban cho các bạn trẻ; họ đáp lại hồng ân này khi can đảm đảm nhận trách nhiệm đối với chính đời sống mình và với tha nhân.

Mục tiêu là xác định chủ đề tình yêu cho cuộc sống và sự chọn lựa đức tin Kitô giáo thông qua một đề nghị cụ thể – nghĩa là tổng hợp những hoạt động nhắm đến việc rao giảng Tin Mừng, như cộng đoàn Kitô hữu đã hiểu và sống. Đề nghị này đặt nền mong đợi rằng các thế hệ tiếp theo sẽ tiếp nhận và sống kinh nghiệm đức tin trong hoàn cảnh lịch sử riêng của họ.

Ngay từ giai đoạn đầu của hành trình, đề nghị ấy đã khởi động tiến trình hội nhập các bạn trẻ vào đời sống Hội Thánh hữu hình: giúp họ cảm nghiệm chứng tá hiến dâng vô vị lợi của sinh động viên và của toàn thể cộng thể giáo dục; giúp họ có khả năng đón nhận những thái độ và chất vấn tôn giáo. Nếu thiếu bước này, việc trình bày bằng lời hoặc qua nội dung giáo lý sẽ trở nên vô nghĩa.

Tuy nhiên, ở giai đoạn này, lời loan báo trở nên minh nhiên và có nền tảng vững chắc qua việc kể lại đức tin vào Tin Mừng. Đây là điều cần thiết để hoàn tất hành trình của người trẻ, giúp họ nhận ra chính mình qua Đức Giêsu Kitô và cùng hướng đến Nước Thiên Chúa – hạt giống của sự sống viên mãn giữa nhân loại.

Những vấn đề cần giải quyết trong giai đoạn này

Câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống. Những vấn nạn mà ta gọi là “tôn giáo” cần được nêu rõ và định hình trong đối thoại với Thiên Chúa – Đấng vừa mặc khải vừa ẩn mình, hiện diện bên trong và vượt lên trên mọi biến cố nhân loại. Mở lòng cho Tin Mừng đòi hỏi phải có đức tin, hoặc ít là khát vọng tìm kiếm Thiên Chúa. Không chỉ dừng ở việc đặt câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống, mà quan trọng hơn là để những câu hỏi ấy hướng tới mầu nhiệm, nơi con người đối diện không chỉ với chính mình, mà với Thiên Chúa – Đấng tự hiến và tự thông ban.

Trình bày dung mạo Đức Giêsu. Làm thế nào để giới thiệu dung mạo Chúa Giêsu cho những bạn trẻ đã tiếp xúc lâu năm với Tin Mừng, đến mức họ coi đó như điều hiển nhiên? Làm sao khơi lại sức sống và sự mới mẻ của Tin Mừng, để nó vẫn có khả năng biến đổi lòng người?

Câu hỏi này đặt ra ở hai bình diện:

  • Bình diện ngôn ngữ: Đó có phải là việc trình bày đức tin qua giáo lý – một hệ thống các chân lý – hay là lời mời gọi khởi động một hành trình tìm kiếm cá vị?
  • Bình diện dung mạo Đức Giêsu: Trải qua lịch sử, Hội Thánh đã giới thiệu nhiều dung mạo Chúa Giêsu khác nhau để đáp ứng những vấn nạn của từng thời đại. Vậy hôm nay, cần trình bày dung mạo nào cho người trẻ?

Nếu toàn bộ hành trình nhóm hướng tới một sự chọn lựa đức tin tiệm tiến, thì cũng phải có một thời điểm để lời mời gọi Kitô giáo trở thành lời kêu gọi quyết định vĩnh viễn. Cần tạo điều kiện để tiến trình này diễn ra: xác định thời điểm thuận lợi và hình thức thích hợp, đồng thời làm rõ những giá trị và chân lý cốt yếu để có thể tuyên xưng mình là Kitô hữu.

Nhiều bạn trẻ thấy một số giáo huấn và thực hành Kitô giáo khó thực hiện. Nếu việc trở thành Kitô hữu đòi hỏi ngay lập tức phải gánh lấy toàn bộ gia sản tín lý và luân lý, thì không ít người sẽ chùn bước. Ngược lại, cũng không thể cắt xén đức tin cho phù hợp sở thích cá nhân hoặc tách rời Tin Mừng khỏi Hội Thánh. Thách đố là làm sao giải quyết những vướng mắc này mà không làm người trẻ nản lòng, cũng không làm suy giảm nội dung đức tin.

Mục tiêu

Trong giai đoạn này, sinh động viên và nhóm cần hướng tới:

  • Tìm sự hòa hợp giữa các vấn nạn cá nhân và kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu, thiết lập tiến trình trao đổi giúp hai yếu tố này soi sáng cho nhau.
  • Kể lại Tin Mừng như một lời kêu gọi vượt lên trên mọi câu hỏi nhân loại, để cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa làm người, nhận ra Nước Thiên Chúa đang hiện diện; đồng thời tạo điều kiện để người trẻ chọn lựa một lối sống cá vị và dấn thân vì Đức Giêsu cùng sứ điệp của Ngài.

Hoạt động và can thiệp mục vụ

  • Khơi dậy ý thức tôn giáo. Chuỗi hoạt động giúp người trẻ nhận ra các chất vấn tôn giáo phát sinh từ kinh nghiệm sống, và định hướng đời sống về Thiên Chúa – vừa gần gũi vừa huyền nhiệm. Nhóm không coi đây là bước chuyển phương pháp, mà là cơ hội đào sâu lâu dài: đón nhận lời kêu xin ý nghĩa từ mọi biến cố, đưa nó vào đối thoại cá nhân và cộng đoàn với Thiên Chúa qua cầu nguyện, chiêm ngắm và thinh lặng.
  • Gặp gỡ Tin Mừng như “tường thuật”. Thay vì chỉ nghiên cứu lịch sử hay thần học, nhóm được mời gọi hiện tại hóa các biến cố trong đời sống Đức Giêsu, tạo không gian để kể và nghe Tin Mừng như một câu chuyện sống động. Qua lời chứng và ký ức cộng đoàn, người trẻ được khơi dậy niềm hứng khởi tìm hiểu, hòa nhập và để Tin Mừng soi sáng đời mình.
  • Hỗ trợ tiến trình chọn lựa đức tin. Cảm xúc tích cực chưa phải là chọn lựa. Chọn lựa đức tin đòi người trẻ dám đặt biến cố Đức Giêsu song hành với câu hỏi sâu thẳm của mình, để nhận ra Tin Mừng chứa đựng lời đáp vượt quá mọi hy vọng. Đây vừa là hành động của con người, vừa là ân huệ Thánh Thần, và luôn mang tính độc đáo. Việc này cần được nâng đỡ bằng những tiếp xúc với nhân chứng đức tin, những trải nghiệm phục vụ và chiêm ngắm.
  • Giúp diễn tả quyết định đức tin. Người trẻ cần được đồng hành để vượt qua khó khăn khi tuyên xưng niềm tin, hiểu chọn lựa ấy như hạt giống mở ra hành trình mới. Cách diễn tả có thể khác nhau: tăng cường đời sống cầu nguyện, dấn thân biến đổi đời sống thường ngày, hoặc tham gia phục vụ trong nhóm và cộng đoàn. Mỗi người và nhóm sẽ tìm ra cách diễn tả riêng, nhưng đều hướng tới sống và loan báo Tin Mừng.

5.     SỰ TRƯỞNG THÀNH VÀ VIỆC HẤP THỤ ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

Các vấn đề

Khi đã đạt tới độ chín, nhóm có khả năng tự điều hành và đảm nhận trách nhiệm của mình. Dù vẫn có thể xuất hiện những xung đột hoặc sự sa sút hứng thú, nhóm vẫn đứng vững nhờ biết quay trở lại những chọn lựa nền tảng đã từng khởi đầu hành trình chung.

Trong giai đoạn này, mục tiêu căn bản là hấp thụ đời sống Kitô hữu một cách sâu xa, để đức tin trở thành lựa chọn nhất quán và bền vững, thấm nhập mọi khía cạnh đời sống cá nhân và tập thể. Đây là bước chuyển từ đức tin khởi mầm sang đức tin trưởng thành – một đức tin được lý chứng, thấm vào cách suy nghĩ, đánh giá, hành động và trở nên phong cách sống được gợi hứng từ Tin Mừng. Giai đoạn này có một số những mối “gút” cần tháo gỡ:

  • Từ xác tín ban đầu sang đức tin phản tỉnh. Ở tuổi này, người trẻ không còn dễ chấp nhận một đức tin chỉ dừng ở mức xác tín mơ hồ. Họ cần được trình bày đức tin cách hệ thống, sâu sắc và có khả năng đối thoại phê phán. Việc xét lại lý chứng và nội dung đức tin trở nên cần thiết, nhất là khi môi trường xã hội – vốn thường thờ ơ hoặc định kiến với Kitô giáo – có ảnh hưởng mạnh mẽ đến họ.
  • Nhập thể đức tin vào thực hành tôn giáo. Nhiều người trẻ gặp khó khăn trong việc diễn tả đức tin qua cầu nguyện, phụng vụ, việc đọc và suy niệm Lời Chúa, cũng như qua truyền thống sống động của Hội thánh. Sự trần thế hóa trong văn hóa hiện đại khiến các thực hành tôn giáo trở nên xa lạ hoặc bị coi là lỗi thời.
  • Liên kết nhóm với Hội thánh phổ quát. Không ít người trẻ cảm thấy khó chấp nhận cơ chế vận hành của Hội thánh. Vì thế, nhóm cần trở thành “phòng thí nghiệm” của sự hiệp thông, nơi họ trải nghiệm sự tham gia thực sự vào đời sống và sứ mạng của cộng đoàn Giáo hội.
  • Chuyển hóa đức tin thành luân lý sống. Khoảng cách giữa giáo huấn của Hội thánh và lối sống thực tế – đặc biệt trong các lĩnh vực luân lý tính dục, xã hội và nghề nghiệp – đòi hỏi một cuộc đối thoại chân thành giữa lương tâm và luật, giữa truyền thống và thực tại.

Mục tiêu của giai đoạn

  • Đức Giêsu Kitô trở thành tiêu chuẩn tuyệt đối và nguồn hy vọng cho sự đổi mới cá nhân, văn hóa và xã hội.
  • Hình thành phong cách sống Kitô hữu phù hợp với bối cảnh hiện đại của người trẻ.
  • Giúp mỗi thành viên bước từ đức tin nhóm sang đức tin cá nhân, gắn liền với đời sống hằng ngày và hội nhập vào bối cảnh văn hóa – xã hội.

Hướng can thiệp và hoạt động

  • Đào sâu đức tin: Tổ chức học hỏi hệ thống để chuyển từ đức tin bộc phát sang đức tin được lý chứng; đặt ra và cùng nhau giải quyết các câu hỏi khó về mặc khải, Nhập thể, thập giá, phục sinh, và ơn cứu độ. Tạo cơ hội tiếp cận giáo lý, Kinh Thánh và thần học.
  • Thực hành cầu nguyện và phục vụ: Xây dựng “trường học cầu nguyện”, nuôi dưỡng thói quen tiếp xúc với Lời Chúa và phụng vụ; dấn thân phục vụ người nghèo, người bên lề xã hội; suy tư về chiều kích xã hội – chính trị của hoạt động mục vụ.
  • Đối chiếu luân lý và hoán cải: Đối thoại với chuyên gia luân lý, duyệt xét đời sống cá nhân, can đảm thực hiện những thay đổi cần thiết để phù hợp với Tin Mừng.
  • Sống và làm nên Hội thánh: Mở rộng tầm nhìn về Hội thánh phổ quát, tham gia các hoạt động của giáo xứ, các sứ mạng truyền giáo hoặc những cộng đoàn đang chịu thử thách vì đức tin; phân định ơn gọi và dấn thân cho Nước Chúa.

6.     VIỆC HỘI NHẬP VÀO CỘNG THỂ VÀ ƠN GỌI CÁ NHÂN

Đặc điểm và vấn đề

Giai đoạn học tập là thời kỳ yên tĩnh và phong phú trong đời sống nhóm. Các hoạt động diễn ra đều đặn, ít biến động hay khủng hoảng. Đây là thời điểm thuận lợi để thực hiện phân tích thực tại, hình thành và triển khai các kế hoạch, cả trong nội bộ nhóm lẫn trong môi trường xã hội và Hội Thánh. Nhóm dần mở ra, không còn khép kín như trước, ngày càng tự lập với sinh động viên, và trở thành một kinh nghiệm do chính các bạn trẻ điều hành.

Quá trình này tiếp diễn cho đến khi xuất hiện những dấu hiệu của giai đoạn mới và cuối cùng: nhóm hoàn tất chu kỳ phát triển và hành trình đào luyện của mình. Dần dần, nhóm đi đến chỗ giải tán như một bước tăng trưởng tự nhiên. Các thành viên đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn, mở rộng các mối tương quan trong xã hội và Hội Thánh, đồng thời hình thành những quan điểm mới, chịu ảnh hưởng từ nghề nghiệp, từ sự trưởng thành cá nhân, và từ nhu cầu đổi mới các mối tương quan cũng như đời sống đức tin.

Nhiều thành viên nhận ra hành trình của nhóm đã đóng vai trò thiết yếu trong những lựa chọn quan trọng của cuộc đời. Tuy nhiên, họ cảm thấy thôi thúc bước xa hơn. Việc rời nhóm trở thành một thách đố cá nhân, đòi hỏi phải đối diện dưới ánh sáng các giá trị đã được cùng nhau hình thành.

Về phương diện đào luyện, đây là giai đoạn nhạy cảm. Người trẻ cần có khả năng tổng hợp và tiếp tục mang theo gia sản văn hóa – tôn giáo tích lũy qua nhiều năm, để định hướng tương lai. Sinh động viên được mời gọi đồng hành chặt chẽ, giúp mỗi người tìm ra con đường và ơn gọi riêng trong xã hội và Hội Thánh.

Một số “mối gút” cần tháo gỡ

  • Gút thứ nhất: Dưới ánh sáng các giá trị đã thấm nhuần trong nhóm, mỗi cá nhân phải đối diện với những vấn đề mới: hội nhập xã hội và nghề nghiệp, dấn thân vào tình yêu đôi lứa một cách chín chắn, quyết định xây dựng gia đình, hoặc bước vào các môi trường xã hội khác. Thực tế đời sống ít mang tính bảo bọc như tuổi thiếu niên, và sự va chạm giữa chuẩn mực xã hội với giá trị cá nhân có thể trở nên gay gắt, thậm chí khiến những giá trị từng đạt được bị lung lay.
  • Gút thứ hai: Việc tìm kiếm và xác định ơn gọi cá nhân, cả trong tư cách nam nữ lẫn trong tư cách tín hữu. Toàn bộ hành trình nhóm đã góp phần soi sáng tiến trình này, nhưng ở giai đoạn hiện tại, chọn lựa ơn gọi trở nên thôi thúc và chín muồi hơn: linh mục, tu sĩ, đời sống hôn nhân, hay dấn thân trong nghề nghiệp. Vấn đề trọng tâm là: Sự cộng tác tích cực của tôi vào việc xây dựng Nước Thiên Chúa và cộng đoàn Hội Thánh sẽ được thể hiện thế nào? Tôi sẽ tham gia vào bối cảnh xã hội và Hội Thánh nào để diễn tả tốt hơn tình yêu của mình đối với sự sống và Đấng là nguồn sự sống?
  • Gút thứ ba: Sự tan rã hay chuyển hóa của nhóm. Việc chấp nhận “cái chết” hoặc sự tách mình khỏi nhóm không hề dễ dàng. Dù tự nhiên mở ra các mối tương quan mới, các thành viên vẫn ý thức rằng một phần kinh nghiệm nhóm cần được tiếp nối. Điều quan trọng là xác định đâu là yếu tố cốt lõi phải được duy trì, và bằng cách nào.

Khi nhóm tan rã, các dịp gặp gỡ để sống đời Kitô hữu – như phục vụ tha nhân, cầu nguyện, suy tư đức tin – trở nên thưa thớt. Người trẻ cần học cách trân trọng và tái khám phá giá trị của những điều nhóm từng cung cấp dồi dào qua tĩnh tâm, hội trại, hay gặp gỡ linh mục và sinh động viên. Bước vào tuổi trưởng thành, quỹ thời gian hạn hẹp khiến việc phục vụ và đào sâu đức tin dễ bị lãng quên; vì thế cần chủ động tìm kiếm những điểm hẹn và thời khắc tôn giáo để nuôi dưỡng đức tin trong đời sống xã hội.

Mục tiêu của giai đoạn

Sinh động viên và nhóm hướng tới:

  • Nhận định toàn diện và tích cực về hành trình đã qua.
  • Sống cuộc đời như một ơn gọi – tiếng Chúa mời gọi mỗi ngày trở thành người nam, người nữ tín hữu trọn vẹn hơn, gặp gỡ Thiên Chúa trong biến cố thường nhật.
  • Khuyến khích hội nhập vào các môi trường nơi người Kitô hữu trưởng thành hiện diện trong xã hội và Giáo hội.
  • Nuôi dưỡng khát vọng và quyết tâm đào luyện lâu dài về văn hóa và đức tin.

Hướng hoạt động và can thiệp

  • Chuỗi thứ nhất: Hỗ trợ chuyển tiếp từ “thuộc về nhóm” sang “hội nhập xã hội”; giúp các thành viên nhìn lại, sở hữu kinh nghiệm đã sống; giảm hoạt động tập thể, tạo khoảng trống cho trách nhiệm cá nhân; nuôi dưỡng các mối tương quan với ý thức cùng phục vụ một kế hoạch chung, dù ở nhiều bối cảnh khác nhau; đồng thời chuẩn bị tinh thần cho khả năng nhóm kết thúc.
  • Chuỗi thứ hai: Tập trung vào các vấn đề đôi lứa, gia đình, xã hội, và Hội Thánh; áp dụng phân định thiêng liêng để đọc các biến cố dưới ánh sáng Tin Mừng; đối thoại và hợp tác với các kinh nghiệm xã hội – giáo hội khác; mở rộng phục vụ ngoài phạm vi nhóm để khám phá ơn gọi.
  • Chuỗi thứ ba: (dù văn bản gốc gọi là “thứ tư”) Nhấn mạnh tìm kiếm và khám phá ơn gọi cá nhân qua cầu nguyện, tĩnh tâm, gặp gỡ nhân vật truyền cảm hứng, tham gia kế hoạch tông đồ; gắn kết chọn lựa ơn gọi với một cộng đoàn Kitô hữu trưởng thành; đồng thời chấp nhận việc nhóm giải thể hoặc tái sinh dưới hình thức khác, mang tính địa phương hoặc cá nhân.

Kết luận

Qua toàn bộ tiến trình, nhóm “sinh động” được hiểu như một cơ cấu tăng trưởng, biết tự vượt qua khó khăn, phát triển giữa những nghịch lý, và có khả năng tái sinh trong nhiều lĩnh vực dấn thân. Người trẻ sau giai đoạn này đứng trước nhiều con đường: phục vụ giới trẻ như giáo dân, tham gia gia đình Salêdiêng, đem tinh thần đã thấm vào môi trường xã hội, cống hiến trong lao động – chính trị, hoặc các hình thức phục vụ khác. Sinh động viên và nhóm, bằng tình liên đới hình thành qua kinh nghiệm chung, sẽ tiếp tục đồng hành, nâng đỡ, và giúp người trẻ giữ vững định hướng ơn gọi cùng tinh thần phục vụ tinh ròng.

CHƯƠNG 3: NHÓM - CHỦ THỂ VÀ ĐỊA ĐIỂM CỦA VIỆC SINH ĐỘNG HÓACHƯƠNG 5: NHIỆM VỤ THỨ NHẤT CỦA SINH ĐỘNG VIÊN GIÚP NGƯỜI TRẺ TRỞ THÀNH NHÓM